Thiền Kinh Niệm Xứ Lược Giải

phong thuy chinh thong

THIỀN KINH NIỆM XỨ LƯỢC GIẢI (Thích Thông Huệ)

Thiền tứ niệm xứ hay còn có tên gọi khác là Thiền minh sát niệm xứ, Thiền tỉnh thức hay Thiền Vipassana là một phương pháp phát triển tuệ minh sát thấu biết sự thật.

Vipassana là một thuật ngữ Phật pháp, là sự kết hợp của hai từ. “Vi” là một từ, “passana” là một từ khác. Ở đây,“Vi” đề cập đến ba đặc tính của trạng thái tâm lý và trạng thái vật chất, có nghĩa là vô thường (anicca), bất toại nguyện hay khổ (dukkha), và vô ngã hay không có cái tôi, không có linh hồn (anatta). “Passanà” có nghĩa là sự hiểu biết đúng hay sự thực chứng nhờ định sâu, hay là hiểu biết đúng ba đặc tính của trạng thái tâm lý (nama) và vật chất (rupa). Khi chúng ta thực hành thiền Vipassana, mục đích là nhận ra anicca, dukkha và anatta – ba đặc tính vô thường, khổ và vô ngã của các hiện tượng.

Bằng cách nhận ra ba đặc tính này của trạng thái tâm lý và vật chất , chúng ta có thể loại bỏ tất cả những ô nhiễm như tham sắc, tham ăn, tham tiền, dục vọng, hận thù, ác tâm, ghen tỵ, kiêu mạn, giải đãi và hôn trầm, buồn phiền và lo lắng, trạo cử và hối quá. Khi đã phá xong những ô nhiễm này, chúng ta đạt được giải thoát hay chấm dứt khổ. Chừng nào chúng ta còn bất kỳ một ô nhiễm nào thì chúng ta chắc chắn còn phải trải qua nhiều khổ đau (dukkha). Ô nhiễm là nguyên nhân của khổ, do đó, khi nào những nhiễm ô đã bị diệt trừ thì tất cả khổ đau sẽ chấm dứt.

PHẦN I : CHÁNH VĂN KINH NIỆM XỨ

Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu-lâu), Kammassadhamma (Kiềm-ma-sắt-đàm) là đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
– Này các Tỷ-kheo.
Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn.
Thế Tôn thuyết như sau:
– Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm Xứ.

Thế nào là bốn? – Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Này các Tỷ-kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay thiện xảo khi quay dài, tuệ tri: “Tôi quay dài” hay khi quay ngắn, tuệ tri: “Tôi quay ngắn”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thở vô dài, tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, tuệ tri: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, mới hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, tuệ tri: “Tôi đi”; hay đứng, tuệ tri: “Tôi đứng”; hay ngồi, tuệ tri: “Tôi ngồi”; hay nằm, tuệ tri: “Tôi nằm”. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy. Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng-già-lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm. Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: “Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu”. Này các Tỷ-kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: “Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: “Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu”. Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về các vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại”. Này các Tỷ-kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng thân phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về vị trí các giới và về sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại”. Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”. Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài dã can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”. Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Này các Tỷ-kheo, lại nữa, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại…; với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại… với các bộ xương không còn dính thịt, dính máu, còn được các đường gân cột lại; chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”. Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc… chỉ còn một đống xương lâu hơn ba năm… chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”. Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo khi cảm giác lạc thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ”; khi cảm giác khổ thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ”; khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ”. Hay khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất”; hay khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất”; hay khi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất”; hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất”. Như vậy, vị ấy sống quán thọ trên các nội thọ; hay sống quán thọ trên các ngoại thọ; hay sống quán thọ trên các nội thọ, ngoại thọ. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các thọ; hay sống quán tánh diệt tận trên các thọ; hay sống quán tánh sanh diệt trên các thọ. “Có thọ đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ.

Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo, với tâm có tham, tuệ tri: “Tâm có tham”; hay với tâm không tham, tuệ tri: “Tâm không tham”. Hay với tâm có sân, tuệ tri: “Tâm có sân”; hay với tâm không sân, tuệ tri: “Tâm không sân”. Hay với tâm có si, tuệ tri: “Tâm có si”; hay với tâm không si, tuệ tri: “Tâm không si”. Hay với tâm thâu nhiếp, tuệ tri: “Tâm được thâu nhiếp”. Hay với tâm tán loạn, tuệ tri: “Tâm bị tán loạn”. Hay với tâm quảng đại, tuệ tri: “Tâm được quảng đại”; hay với tâm không quảng đại, tuệ tri: “Tâm không được quảng đại”. Hay với tâm hữu hạn, tuệ tri: “Tâm hữu hạn”. Hay với tâm vô thượng, tuệ tri: “Tâm Vô thượng”. Hay với tâm có định, tuệ tri: “Tâm có định”; hay với tâm không định, tuệ tri: “Tâm không định”. Hay với tâm giải thoát, tuệ tri: “Tâm có giải thóat”; hay với tâm không giải thoát, tuệ tri: “Tâm không giải thoát”.

Như vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm. Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. “Có tâm đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nội tâm có ái dục, tuệ tri: “Nội tâm tôi có ái dục”; hay nội tâm không có ái dục, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có ái dục”. Và với ái dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có sân hận, tuệ tri: “Nội tâm tôi có sân hận”; hay nội tâm không có sân hận, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có sân hận”. Và với sân hận chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với sân hận đã sanh, nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với sân hận đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có hôn trầm thụy miên, tuệ tri: “Nội tâm tôi có hôn trầm thụy miên”; hay nội tâm không có hôn trầm thụy miên, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có hôn trầm thụy miên”. Và với hôn trầm thụy miên chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với hôn trầm thụy miên đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với hôn trầm thụy miên đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có trạo hối, tuệ tri: “Nội tâm tôi có trạo hối”; hay nội tâm không có trạo hối, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có trạo hối”. Và với trạo hối chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với trạo hối đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với trạo hối đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có nghi, tuệ tri: “Nội tâm tôi có nghi”; hay nội tâm không có nghi, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có nghi”. Và với nghi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với nghi đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với nghi đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.

Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy tư: “Ðây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập, đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập, đây là tưởng diệt. Ðây là hành, đây là hành tập, đây là hành diệt. Ðây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt”. Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo tuệ tri con mắt và tuệ tri các sắc, do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy… tuệ tri tai và tuệ tri các tiếng… tuệ tri mũi và tuệ tri các hương… tuệ tri lưỡi và tuệ tri các vị… tuệ tri thân và tuệ tri các xúc… tuệ tri ý và tuệ tri các pháp; do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác Chi. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác Chi? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo nội tâm có niệm giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi có niệm giác chi”; hay nội tâm không có niệm giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có niệm giác chi”. Và với niệm giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với niệm giác chi đã sanh, nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có trạch pháp giác chi… (như trên)… hay nội tâm có tinh tấn giác chi… (như trên)… hay nội tâm có hỷ giác chi… (như trên)… hay nội tâm có khinh an giác chi… (như trên)… hay nội tâm có định giác chi… (như trên)… hay nội tâm có xả giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi có xả giác chi”; hay nội tâm không có xả giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có xả giác chi”. Và với xả giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với xả giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy. Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị ấy sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh Ðế. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh Ðế? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ”; như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ tập”; như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ diệt”; như thật tuệ tri: “Ðây là con đường đưa đến Khổ diệt”. Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế.

Này các Tỷ-kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, không cần gì đến bảy năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này như vậy trong sáu năm, trong năm năm, trong bốn năm, trong ba năm, trong hai năm, trong một năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, không cần gì đến một năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này trong bảy tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, không cần gì đến bảy tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này trong sáu tháng, trong năm tháng, trong bốn tháng, trong ba tháng, trong hai tháng, trong một tháng, trong nửa tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, không cần gì nửa tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn… Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm Xứ.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

PHẦN II: LƯỢC GIẢI
  1. A.    – DUYÊN KHỞI 
    Như vầy tôi nghe.
    Một thời Thế-Tôn ở xứ Kuru (Câu-lâu), Kammassadhamma (Kiềm-ma-sắt-đàm) là đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
    – Này các Tỷ-kheo.
    Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn:
    – Bạch Thế Tôn!
    Thế Tôn thuyết như sau:Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm Xứ.

    Mở đầu bài kinh, chúng ta thấy Ðức Phật gọi các vị Tỷ-kheo, và giới thiệu về “Con đường độc nhất”. Ðây là thể “Vô vấn tự thuyết”, nghĩa là Ðức Phật thuyết giảng không vì đại chúng thưa thỉnh, mà chính Ngài thấy đúng nơi, đúng lúc nên tự ý nói ra.

    Ngay từ đầu, Phật đã đi thẳng vào vấn đề: Nêu ra hai khả năng đặc biệt quan trọng của Bốn Niệm xứ, tức là kết quả tu tập của một hành giả nếu đi theo lộ trình này. Một là, giúp hành giả được thanh tịnh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu: đó là Giải-thoát. Hai là, giúp hành giả thành tựu chánh trí, tức đẩy lui được vô minh: đó là Giác-ngộ. Giác ngộ và Giải thoát là hai đức tính của Niết-bàn. Chính Bốn Niệm xứ là con đường duy nhất đưa đến cứu cánh ấy.

    Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

    Sau khi nói về Niết-bàn là kết quả tu hành, Ðức Phật giới thiệu những điều kiện để đạt đến kết quả ấy. Chúng ta thấy Ðức Phật quả là một nhà tâm lý học đại tài. Ngài biết chúng sanh ưa thích sự an lạc, hạnh phúc, nên đề cập đến Niết-bàn là quả vui xuất thế gian trước nhất; sau đó mới giảng về nhân vui xuất thế gian. Muốn chứng ngộ Niết-bàn, chúng sanh phải an trú trong bốn lĩnh vực Thân, Thọ, Tâm, Pháp; đó là bốn đối tượng phải chú tâm, để ý, không được xao lãng, mà Phật gọi là Bốn Niệm Xứ.

    Trong đoạn kinh này, Ðức Phật thường nhắc đi nhắc lại cụm từ “nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời”. Nếu tu hành mà không nhiệt tâm, không tinh tấn, không dồn hết tâm lực của mình vào việc đẩy lui vô minh, tiêu trừ dục vọng, thì làm sao vượt qua mọi khó khăn trở ngại trên đường tu, thành tựu đạo quả? Chính tâm nồng nhiệt nóng bỏng, lại vững chắc trước sau như một, mới giúp chúng ta tăng tiến, giúp chúng ta luôn luôn tỉnh giác, tức biết rõ mọi điều đang xảy ra trong thân tâm và cảnh vật xung quanh ta. Cũng chính nhờ có nhiệt tâm, chúng ta mới luôn luôn đặt tâm vào giờ phút hiện tại, luôn luôn sống với thực tại “đang là”: đây là tinh thần của Chánh niệm. Khi tâm thanh tịnh, bao nhiêu tham ưu trên đời đều không còn ảnh hưởng đến chúng ta được nữa.

    B. – NỘI DUNG.
    I- QUÁN THÂN TRÊN THÂN.  
    1.- Chánh niệm qua hơi thở.

    Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Này các Tỷ-kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay thiện xảo, khi quay dài, tuệ tri: “Tôi quay dài”; hay khi quay ngắn, tuệ tri: “Tôi quay ngắn”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thở vô dài, tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, tuệ tri: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

    Trước tiên, Ðức Phật dạy chúng ta phương pháp chánh niệm qua hơi thở. Ðây là chi phần thứ nhất trong lĩnh vực Quán thân trên thân. Nơi thiền tập phải là nơi trống vắng, có không khí trong lành, gần với thiên nhiên, xa lánh sự ồn náo. Dường như trong suốt cuộc đời của Ðức Phật, rừng núi và cảnh thiên nhiên hoang sơ luôn gắn bó với Ngài: Lúc đản sinh tại vườn Lâm-Tỳ-Ni thời ấy vẫn còn nguyên sinh hoang dã; khi xuất gia và quyết liệt khổ hạnh trong sáu năm cũng tại rừng già; lúc thiền định bốn mươi chín ngày đêm, thành tựu Phật quả dưới cội cây Tất-bát-la gần sông Ni-liên-thuyền, cũng ở trong rừng. Cho đến khi nhập Niết-bàn, lại cũng tại rừng Ta-la Song-thọ. Chính ở những nơi vắng vẻ, thoát khỏi sự ồn náo của cuộc sống, hành giả mới dễ thu nhiếp thân tâm.

    Về tư thế công phu, thì tọa thiền, nhất là kiết già, vẫn là tư thế thù thắng hơn cả. Khi ngồi theo tư thế hoa sen, lưng thẳng, khí huyết dễ lưu thông hơn các cách ngồi khác, nên hành giả có thể kéo dài thời gian thiền tập. Lúc ngồi, mắt khép hờ, không duyên theo sắc trần bên ngoài; các căn khác cũng không có cơ hội chạy theo trần cảnh, nên dễ định tâm, nhất là đối với người sơ cơ. Hành giả lúc bấy giờ an trú vào chánh niệm, tức đặt tâm vào giờ phút hiện tại, bắt đầu theo dõi hơi thở.

    Vì sao Ðức Phật dạy chúng ta dùng hơi thở làm đối tượng để thực tập chánh niệm?

    Hơi thở là một công năng của hệ hô hấp, thuộc về thân, nhưng cũng có sự liên hệ chặt chẽ với tâm. Cuộc sống con người gắn liền với hơi thở, nếu thở ra không hít vào, con người sẽ mạng vong. Khi đặt tâm chuyên chú vào hơi thở, không duyên theo trần cảnh bên ngoài, đến một lúc nào đó, giữa tâm và hơi thở sẽ có sự hợp nhất. Chủ thể (tâm) và đối tượng (hơi thở) ở trong trạng thái hợp nhất, đó là nội dung của chánh niệm. Cho nên, Quán niệm hơi thở là một pháp tu nổi tiếng về thiền tập. Pháp tu này không phải chỉ từ thời Phật mới có, mà thật sự đã phát triển từ trước, nhất là trong những lối tu của ngoại đạo như Tứ thiền Bát định. Ðức Phật áp dụng pháp môn này và triển khai một cách toàn diện và triệt để.

    Nhân đây, chúng ta cũng nên học tập tinh thần khách quan của Ðức Phật. Ngài nhận thấy pháp môn nào có thể áp dụng một cách hiệu quả thì Ngài cho lưu truyền, không kỳ thị pháp môn ấy là của tông phái hay tôn giáo nào. Trên đường tu, chúng ta không nên mang một ấn tượng, một cảm tính đối với pháp môn nào, vì sẽ trở ngại cho sự nhận thức đúng đắn về chân lý. Tất cả pháp môn của Phật, từ kim khẩu Ðức Phật nói ra, đều có đồng một vị giải thoát. Tùy căn cơ trình độ của mỗi người mà tự ý lựa chọn pháp tu cho thích hợp. Bênh vực pháp tu của mình và chê bai những pháp khác, đó là hành vi của bản ngã, không đúng với tinh thần của đạo Phật.

    Mặt khác, nếu chúng ta học Phật mà chỉ nhằm củng cố và bổ sung kiến thức về Phật pháp mà thiếu nội tu, đó là chúng ta vô tình làm giảm giá trị của đạo Phật. Người tu Phật không chỉ là học giả, mà còn phải là hành giả; nghĩa là phải học cách hành trì, cách áp dụng lời Phật dạy vào công phu tu tập, mục đích để chuyển hóa tự thân, xa lìa khổ não và thoát ly sinh tử luân hồi.

    Trong phần Chánh niệm qua hơi thở, Ðức Phật dạy tuần tự qua bốn giai đoạn:

    1- Tỉnh giác theo dõi hơi thở vô và ra.

    2- Tuệ tri hơi thở vô và ra.

    3- Cảm giác toàn thân khi thở vô và ra.

    4- An tịnh toàn thân khi thở vô và ra.

    a.- Giai đoạn 1:

    “Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra”: Lúc thở vào và thở ra, chúng ta đều tỉnh giác biết rõ. Ðiều này thật quá đơn giản, nên mới nghe, có nhiều người xem thường. Vì sao chỉ theo dõi hơi thở vào và ra mà gọi là Thiền? – Hằng ngày, chúng ta tất bật lo kiếm sống, tâm dong ruổi theo các pháp, không biết xoay lại chính mình, cho nên không khi nào ý thức được mình đang thở. Nhưng nếu không thở, con người còn tồn tại không? Của cải quyền lực lúc ấy còn ý nghĩa gì? Ðức Phật dạy chúng ta theo dõi hơi thở để nhận định rõ ràng rằng, bản chất của đời sống là hô (thở ra) và hấp (hít vào). Tất cả sinh mạng, tài sản, địa vị đều treo lơ lửng trên hơi thở, vì thế chỉ toàn là vay mượn, không vững bền, không thật có. Tỉnh giác theo dõi từng hơi thở ra vào, vọng niệm không có chỗ xen, đó là con đường hướng nội, là chánh niệm. Ðó tức là Thiền tập.

    b.- Giai đoạn 2.

    “Thở vô dài, vị ấy tuệ tri “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệâ tri “Tôi thở ra ngắn”.

    Giai đoạn 2 là Tuệ tri, đây là cái biết bằng trí tuệ. Khi tâm bám sát hơi thở ra, vào – dài, ngắn ta đều biết rõ, cái biết lúc này đã tiến được một bước. Ðiều cần lưu ý, chúng ta không nên cưỡng ép, bắt hơi thở phải dài hay ngắn theo ý mình, vì sẽ làm chúng ta tức ngực và khó thở. Chỉ để tâm tỉnh biết thôi, hơi thở thế nào tuệ tri như thế ấy, dù thời gian bao lâu chúng ta cũng thấy thoải mái để thắp sáng chánh niệm trên hơi thở. Kết quả của công phu trong giai đoạn này là có sự liên hệ chặt chẽ giữa tâm và hơi thở.

    c.- Giai đoạn 3.

    “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập: Trong giai đoạn này, nhờ tâm bám chặt vào hơi thở nên bắt đầu chúng ta thấy toàn thân có cảm giác tươi mát khi thở vào và ra. Hơi thở trở thành một gạch nối giữa thân và tâm.

    d.- Giai đoạn 4.

    “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập”: Khi thở vào và ra, chúng ta thấy một trạng thái an tịnh khắp châu thân. Ở đây, chánh niệm là do cái biết tự nó phóng xuất, là cái biết của trực giác, không qua trung gian suy luận. Kết quả của giai đoạn này là có sự hợp nhất giữa thân và tâm.

    Một điều cần lưu ý, Ðức Phật thường nhắc đến từ “tuệ tri”. Tuệ tri là ý thức một cách minh mẫn, với một tâm an định, đây là cái biết thuộc về trí tuệ của người có công phu thiền tập. Cần phân biệt với “Thức tri” là cái biết bằng thức tưởng phân biệt của phàm phu, biết mà phân biệt đối đãi, với tâm tán loạn.

    Một ví dụ về người thợ quay tơ lành nghề hay học trò giỏi của người ấy, khi làm việc chỉ chú tâm vào công việc đang làm, người làm và việc làm hợp nhất. Liên hệ với lời dạy của Hòa-thượng Trúc Lâm: “Làm việc gì chỉ biết việc ấy”. Khi chúng ta chỉ chuyên tâm vào công việc, không nhớ nghĩ đến bất cứ điều gì, việc làm tự nhiên sẽ thành công tốt đẹp. Ðó là kết quả nhờ chánh niệm.

    Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

    Ðức Phật kết luận về chánh niệm qua hơi thở. Nhờ chánh niệm, miên mật từng phút giây, hành giả sẽ đạt được sức định tĩnh rất cao. Một nhà khoa học, muốn khảo sát cấu tạo vi tế của một tế bào, phải tập trung chú ý vào kính hiển vi điện tử, nhiều lúc quên cả mọi vật xung quanh. Một người nhờ chánh niệm qua hơi thở mà vào định, thì định lực này không có nhà khoa học nào bì kịp. Người ấy sẽ đạt đến trạng thái thân và tâm hợp nhất, vì khi ý thức rõ hơi thở vào và ra, từ lúc bắt đầu, tồn tại và kết thúc, mỗi sát na đều an trú trong hơi thở, thì vọng niệm không còn chỗ nào xen vào.

    Khi vị ấy tuệ tri “Có thân đây”, đó không phải biết có thân bằng vọng niệm, mà là trực diện với thân ngay trong giờ phút hiện tại. Ðây là cái thấy trong trạng thái như thị, năng và sở nhập một, chủ thể và đối tượng không hai. Ðạo Phật không bao giờ chủ trương những phương pháp hành thiền quên thân quên cuộc đời, lối thiền tiêu nha bại chủng, mà phải nhận ra thực tại đang trôi chảy trong như thực tri kiến. Rõ ràng Thiền Niệm xứ mang nội dung của Tối thượng thừa thiền!

    Chúng ta đã biết, chánh niệm là luôn luôn đặt tâm vào hiện tại; nếu niệm nhớ nghĩ về quá khứ hay mơ tưởng đến tương lai thì gọi là tà niệm hay thất niệm. Chánh trí là trí thấy được các pháp hiện khởi trong giờ phút đang là, chánh trí thành tựu khi ánh trực giác phát sinh. Nhờ an trú chánh niệm như vậy, vị ấy thấy rõ thân mình (ngã), tất cả những sở hữu của mình (ngã sở) và cả tâm thức của mình (tự ngã), đều chỉ nằm trong hơi thở mong manh! Mọi dục vọng tham đắm đối với thế gian cũng chỉ mỏng manh trong hơi thở, vị ấy không còn chấp trước vật gì trên đời, không còn phiền não nào làm xao động hồ tâm. Ngay đó là giải thoát.

    Con người khổ đau phần nhiều là do tán tâm, phan duyên theo các pháp, nhận lầm tấm thân tứ đại giả hợp và tâm vọng tưởng điên đảo là thật mình. Do vậy, đôi khi vì một chút lợi lộc nho nhỏ cho bản thân mà có thể dửng dưng gây hại cho kẻ khác. Giờ đây, khi biết rõ được chính mình, chúng ta mới thực sự biết thương người. Tùy mức độ tu tập mà ta có thể quên mình vì người nhiều hay ít, nhưng dù chưa đạt đến vô ngã, chúng ta cũng sống một cuộc đời không vị kỷ. Nếu một tôn giáo, một triết thuyết nào xiển dương cho ngã tướng, không từ một thủ đoạn nào miễn đem lại lợi ích cho riêng mình, thì đó là con đường sai lầm. Ngược lại, tôn giáo hay triết thuyết nào tiêu trừ cái ngã, giúp con người biết quên mình vì kẻ khác, thì đó là chánh đạo. Nội dung chủ yếu của thiền tập là chú tâm vào một đối tượng – ở đây là hơi thở – nhằm đạt đến sự hiểu biết sâu sắc về bản chất của sự vật – là vô thường, là duyên sinh, là giả hợp. Biết rõ mình, biết rõ người, chúng ta mới phát sinh đồng thể đại bi, mới có thể quên mình mà sống cho tất cả mọi người. Mặt khác, do không còn tham đắm dục lạc thế gian, không còn chấp trước điều gì trên đời, chúng ta sẽ bước từng bước an lạc hạnh phúc trên trần thế. Chỉ có một pháp quán hơi thở đơn giản như vậy, mà đã có kết quả giải thoát thật tuyệt vời. Ðiều này khiến chúng ta càng tin tưởng, Phật pháp quả thật nhiệm mầu; nếu chúng ta thực hành đúng lời Phật dạy, sẽ có một ngày chúng ta viên thành đạo quả.

    2.- Chánh niệm qua bốn oai nghi.

    Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, tuệ tri: “Tôi đi”; hay đứng, tuệ tri: “Tôi đứng”; hay ngồi, tuệ tri: “Tôi ngồi”; hay nằm, tuệ tri: “Tôi nằm”. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy. Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

    Trong bốn oai nghi đi – đứng – ngồi – nằm, Phật dạy chúng ta phải tuệ tri. Vì sao phải như thế? Lâu nay, tâm chúng ta tán loạn, tuy làm việc nhưng lại nghĩ đến chuyện khác, vì thế năng suất không cao. Bây giờ trở về lại chính mình, luôn luôn đặt tâm vào giờ phút hiện tại, mình đang làm gì đều biết rõ. Trong bốn oai nghi đều có chánh niệm thì dáng vẻ tự nhiên toát ra sự trầm tĩnh, thanh lương mà mọi người xung quanh có thể nhận thấy. Ðiều này rất đơn giản nhưng rất hiệu quả, vì chúng ta gieo nhân an lạc thì quả gặt được chắc chắn là an lạc. Cho nên, đừng nghĩ Thiền là một pháp môn quá cao siêu xa vời, cắt đứt sự sống và lẫn tránh thực tại. Ngược lại, Thiền rất thực tế, rất bình thường, rất gần gũi với cuộc sống. Thiền cũng chính là sự sống vậy.

    3.- Chánh niệm qua các hành tướng của thân.

    Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng-già-lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm.

    Trong bài kinh này, Ðức Phật chỉ nói về các vị Tỷ-kheo, vì thính chúng trong hội chỉ gồm những vị ấy. Nhưng thật ra, các hàng cư sĩ cũng có thể áp dụng lời Phật dạy trong công phu tu hành, vì mọi động tác của thân cũng như hơi thở, không ai là không có. Ở đây, chánh niệm qua những động tác của oai nghi, chi tiết hơn phần trước. Ví dụ khi giơ tay, khi co duỗi chân… chúng ta biết rõ việc mình đang làm; chi ly đến độ, khi ngó tới ngó lui chúng ta cũng ý thức được. Lúc sự quán sát đã đến mức tinh tế như vậy, những gì xảy ra trong hiện tại chúng ta đều sáng tỏ. Cho nên, càng tu càng thông minh, ký ức càng kỳ đặc, sự hiểu biết càng thấu đáo, vì trong từng giây phút của đời sống, chúng ta đều thẩm thấu một cách toàn diện, vì mọi pháp đều được thắp sáng bằng tâm định tĩnh. Ðời sống thiền tập giúp chúng ta những kinh nghiệm trực tiếp bằng sự sống của chính mình, các pháp sẽ hiện bày trước mắt chúng ta một cách rõ ràng như thực.

    Như vậy, hằng ngày chúng ta có rất nhiều cơ hội để tu, dù là người xuất gia hay cư sĩ. Bởi vì chúng ta tu ngay trong từng hơi thở, trong mọi động tác của thân, nếu biết đặt tâm an trú vào chánh niệm. Biết cách tu, chúng ta sẽ thấy mình có rất nhiều thời gian tu hành và giúp ích cho người khác, chứ không phải làm cư sĩ tại gia là quá bận rộn, không tu được, như một số người đã quan niệm sai lầm.

    Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân, hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

    Trong hệ A – Hàm thường dùng cụm từ “Quán thân như thân” thay vì “Quán thân trên thân” để chỉ sự khắng khít giữa thân và tâm, cuối cùng là giai đoạn thân-tâm hợp nhất. Một khi chánh niệm đến mức sâu xa, tâm chuyên chú không còn vọng niệm dấy khởi, hành giả có thể thành tựu đạo quả, nhân một cơ hội nào đó xảy đến rất đột ngột, rất tình cờ: Thiền sư Linh-Vân ngộ đạo khi thấy hoa đào nở, Thiền sư Hương-Nghiêm bừng sáng mắt tuệ khi nghe tiếng sỏi chạm vào thân tre… Sở dĩ được như vậy là vì các vị đã phải chú tâm tinh cần công phu thiền tập suốt mấy mươi năm. Người ngày nay mới hiểu được đôi phần, tưởng chứng ngộ là điều dễ dàng, chưa đến bờ đã vội buông lung phóng túng, sao cho khỏi lạc vào đường tà!

    Khi đạt đến chánh trí, hành giả không còn nương tựa, tức không dính mắc vào ngã và ngã sở. Tâm vị ấy sẽ bàng bạc khắp không gian, không lệ thuộc vào thời gian và trở về với tự thể của nó: Ðó là Chơn như, là Phật tánh, là Niết-bàn.

    Một điều cần lưu ý khi dụng công: Lúc chúng ta đạt được một kết quả nhất định nào đó trong công phu, những tâm tư thầm kín và những dục vọng ngủ yên trong tàng thức từ bao kiếp, bây giờ như sống lại. Do chúng ta đã có sức tỉnh giác, nên mọi hành tung của vọng tưởng lộ diện ra rõ ràng. Nếu chúng ta không có đủ chánh trí chánh niệm, nếu không có biện pháp và khả năng diệt trừ, chúng sẽ trở thành những nọc độc trong tâm, gây cho chúng ta những nỗi đau khổ ray rứt không cùng. Ðiều này hiếm khi xảy ra với người thế tục, vì họ không trực diện với chúng, và lại có những thú vui giả tạm bên ngoài che lấp nỗi buồn bên trong như ca nhạc, thể thao, phim ảnh… Cho nên, người tu trước tiên phải nhận diện những gì đang xảy ra trong thân, trong tâm ý và trong những hoàn cảnh xung quanh, để chuyển hóa nó. Chánh niệm vì thế luôn luôn là phương tiện căn bản hàng đầu trong đời sống thiền tập.

    4.- Quán niệm qua các thành phần của thân.

    Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: “Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu”. Này các Tỷ-kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống, đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: “Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột gạo đã xay rồi”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc…(xin xem chánh văn).

    Ðến đây, Ðức Phật dạy chúng ta chuyển qua công phu Quán. Các giai đoạn trước đặt nặng về Chánh niệm, là an trú tâm trong giờ phút hiện tại vào một đối tượng (như hơi thở, các động tác của thân). Khi tâm đã được an định, phải chuyển qua Quán để phát sinh Huệ, ta gọi là Quán niệm. Thật ra, Chánh niệm và Quán niệm có nội dung gần giống nhau, có điều hơi khác là một bên đặt tâm vào giờ phút hiện tại, còn một bên thấy rõ những gì xảy ra trong giờ phút hiện tại.

    Phần này được gọi là Quán bất tịnh, vì quán thấy mọi thành phần của thân đều được cấu tạo bằng những thứ dơ bẩn; cũng gọi là Tích không quán, vì tự tánh của thân là không, do nhiều yếu tố hợp lại mà thành nên nó không có chủ tể. Phật dạy chúng ta quán sát thân mình từ chân lên đầu, từ ngoài vào trong một cách tỉ mỉ. Quán đến độ tâm trở nên sáng suốt vô cùng, thấy mọi thành phần của thân rõ ràng như người đổ bao đồ ra, thấy rõ từng thứ đựng trong bao, thứ nào ra thứ ấy, không lẫn lộn. Từ đó, mọi chấp trước sai lầm về thân, như cho thân này là quý, là thường hằng, là thật có… đều không còn. Chúng ta sẽ nhận ra, thân này do nhiều thành phần hợp lại, không có gì là tự thể của nó, nó vừa bất tịnh lại vừa duyên hợp, do vay mượn nhiều yếu tố bên ngoài mà thành. Quán niệm thành tựu, chúng ta không còn có chấp ngã trên thân nữa. Ngã không còn thì ngã sở do đâu mà có được?

    5.- Quán niệm qua tứ đại giả hờp.

    Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về các vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại”. Này các Tỷ-kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng thân phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về vị trí các giới và về sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại”. Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

    Ðây là lĩnh vực thứ 5 trong pháp Quán thân trên thân, mục đích để thấy rõ tính chất duyên sinh vô ngã của thân. Thân người hợp thành do bốn đại: Ðất, nước, gió, lửa. Vì sao gọi là “Ðại”? Vì như đất – nước – gió – lửa là bốn yếu tố có mặt không chỉ ở trong thân, mà còn ở cùng khắp thế giới và cả trong vũ trụ vô biên. Ðịa đại bên ngoài là đất, bên trong là chất cứng của cơ thể như thịt, xương; Thủy đại bên ngoài là nước, bên trong là chất lỏng như máu, dịch tiết; Phong đại bên ngoài là gió, bên trong là mọi sự chuyển động như hô hấp, tuần hoàn; Hỏa đại bên ngoài là lửa, bên trong là hơi ấm của cơ thể. Sự hiện hữu của bốn yếu tố này rất lớn lao và trùm khắp, nên được gọi là Ðại.

    Tứ đại bên ngoài là Năng tạo, cơ thể chúng ta vay mượn chúng để tạo nên thân này. Vào trong thân, chúng trở thành Tứ đại Sở tạo. Nếu không vay mượn Tứ đại Năng tạo mỗi ngày, cơ thể chúng ta sẽ không tồn tại được: Mũi hít thở không khí từ mười lăm đến mười tám lần trong một phút, là mượn phong đại bên ngoài; ăn cơm uống nước là mượn địa đại và thủy đại… Nhưng mượn rồi cũng phải trả, cho nên thân thể khỏe mạnh khi sự vay và trả được thông suốt, khi tứ đại bên trong được điều hòa. Nếu có vay mà trả ra không được, hoặc trong bốn đại có một đại trội hơn, thì bệnh tật sẽ phát sinh.

    Như một người đồ tể hay học trò của người ấy, chia con bò ra nhiều thành phần rồi xem xét, chúng ta cũng quán sát thân này bằng cách chia thân thành bốn thành phần. Rõ ràng thân là giả hợp, không có tự thể, thân là duyên sinh vì nó vay mượn những thứ không phải nó để tạo thành nó. Quán đến sâu xa, ta sẽ không thấy cái gì là tôi, của tôi và tự ngã của tôi, mọi pháp đều bình đẳng trong tự tánh không; đây là sự nhận biết của người đã thâm nhập quán môn này.

    Chúng ta là phàm phu, thường phân biệt người này với người khác qua hình tướng. Lại thêm cái lầm lẫn, lúc đất – nước – gió – lửa còn ở bên ngoài thì biết là của trời đất, nhưng lúc mượn vào thân thì lại cho đó là mình. Ðây là cái thấy điên đảo, không đúng lẽ thật. Ngược lại, một bậc đã thành tựu quán niệm, sẽ thấy mình và mọi chúng sanh đều trong thể bình đẳng, vì đều do tứ đại giả hợp thành thân, không có tự thể nên tánh nó là Không. Ðạt được Bình – đẳng – quán, vị ấy sẽ không còn chấp ngã. Ðây là kết quả của công phu Thiền quán.

    Một điều chúng ta cũng cần lưu ý: Xét về tâm lượng của tứ đại. Như đối với đất, chúng ta thấy, đổ nước dơ trên đất, đất không giận; đổ dầu thơm lên đất, đất chẳng mừng; một kẻ gian ác đi trên đất, đất không buồn; một bậc Thánh nhân đi trên đất, đất cũng chẳng vui. Nước, gió và lửa cũng có tâm lượng như thế; bởi vì, tứ đại vốn là vô chấp, vô trước, vô trụ. Bản tánh của chúng là Như. Chúng ta không thấy được trạng thái Như thị của tứ đại, không liễu ngộ được thật tướng của các pháp, nên chúng ta còn chấp trước, phiền não và trầm luân. Cho nên, tu hành không phải là tiêu diệt hay chối từ các pháp, mà nhận chân được thật tướng của chúng. Lúc ấy, thân tứ đại ngũ uẩn sẽ không còn là ràng buộc mà là một thực thể nhiệm mầu. Chúng ta sẽ vận dụng thân này vào trong pháp giới để hoằng hóa độ sanh, sao cho tất cả chúng sanh đều được lợi ích như chính mình.

    6.- Quán niệm thi thể trong nghĩa địa.

    Ðức Phật dạy cách quán về sự bất tịnh của thân sau khi chết, nhờ đối tượng là các tử thi bỏ trong Thi-lâm. Theo phong tục Ấn Ðộ thời xưa, người chết thường được an táng bằng cách thả trôi theo dòng sông, hay thiêu xác, hoặc để nằm trong rừng cho muông thú ăn thịt. Rừng ấy được gọi là Thi-lâm.

    Chúng ta thấy các vị Tỷ-kheo rất gan dạ, hàng ngày vào tại Thi-lâm, trực tiếp nhìn các tử thi để thực hiện phép quán này, lần lượt qua bốn giai đoạn:

    a.- Giai đoạn 1.

    Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”. Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

    Ðây là giai đoạn đầu, một đến ba ngày sau khi tắt thở. Các vị Tỷ-kheo trực diện với tử thi qua từng giai đoạn của sự hủy hoại thân người. Các vị thấy tử thi bắt đầu trương phồng lên, sau đó xanh đen lại và nát thối ra. Bản chất của thân rõ ràng không ra gì, chỉ là một đống thịt thối! Lúc còn sống, phân biệt giàu nghèo, sang hèn, đẹp xấu…; đến khi chết, nằm bất động ở đó thì ai cũng như ai, chỉ là một vật vô tri, không có giá trị gì. Các vị thực hiện pháp quán này, thấy rõ thân mình rồi cũng như thế, tự nhiên nhờm gớm xác thân, không còn chấp ngã và cũng không còn tham đắm dục lạc thế gian.

    Một số vị Tỷ-kheo, sau khi quán bất tịnh một thời gian, thấy quá chán chê ghê tởm thân mình, nên nhờ người khác giết chết mình. Ðức Phật biết được liền quở rất nặng, sau đó dạy rằng, khi quán bất tịnh đã thành công thì phải trở lại quán tịnh, mới khởi lên chánh trí. Ðồng thời, Ngài chế ra giới luật “Tự tử cũng phạm giới sát sanh”. Ngay giới cấm này cũng mang một ý nghĩa quan trọng, đặc biệt đối với những người chịu quá nhiều đau khổ, truân chuyên trong cuộc sống. Nhiều người muốn thoát những nỗi khổ triền miên ấy, nên tự vẫn, cho là có thể trốn tránh được nợ đời. Họ đâu biết rằng, quả khổ đời này là do nhân của những đời trước đã tạo ra. Nếu không cam lòng gánh chịu, lại hủy hoại đời mình, thì trong vòng luân hồi, họ lại phải thọ nhận khổ đau cùng cực hơn ở những kiếp sau. Bởi vì nghiệp theo sát chúng ta như bóng với hình, không làm sao tránh khỏi, chỉ có tu hành theo chánh pháp mới có thể chuyển được nghiệp.

    b.- Giai đoạn 2.

    Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài dã can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”. Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

    Ðến giai đoạn tử thi bị chim muông, thú rừng ăn thịt, côn trùng rúc rỉa, cấu xé từng mẩu từng phần. Mặc cho chúng làm gì thì làm, thân ấy vẫn im lìm, không một chút phản ứng. Lúc sống thì tham sân si đầy dẫy, xem thân là quý, là thật ta, ai đụng chạm đến là không chịu nhịn, ăn thua nhau từng câu nói. Bây giờ nằm đó, thân xác bị xé làm trăm mảnh, nó là của ai? Lúc này, bà con quyến thuộc ở đâu, ai đến nâng niu chăm sóc cho mình?

    c.- Giai đoạn 3.

    Này các Tỷ-kheo, lại nữa, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại…; với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại…; với các bộ xương không còn dính thịt, dính máu, còn được các đường gân cột lại; chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”. Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

    Khi chim muông, thú rừng, côn trùng đã rúc rỉa hết da thịt, tử thi bây giờ chỉ còn lại bộ xương. Lúc đầu xương còn liên kết với nhau, còn dính ít máu thịt và còn những đường gân cột lại. Lần lần, thịt máu tiêu hết, các đường gân cũng không còn; bộ xương nguyên vẹn giờ rã thành từng đốt, từng đoạn, rải rác chỗ này chỗ kia. Ðến giai đoạn này, một con người từng hoạt động nói năng, từng đấu tranh bon chen trong cuộc sống, không những đã trở thành vật vô tri vô giác, mà ngay cả cái hình hài nguyên vẹn cũng không còn! Con người ấy đang ở đâu, trong một lóng xương tay, xương chân, hay trong cái xương sọ lăn lóc trên mặt đất? Vị Tỷ-kheo quán thân người, rồi nhìn lại thân mình cũng thấy cùng một tánh chất ấy.

    d.- Giai đoạn 4.

    Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc… chỉ còn một đống xương lâu hơn ba năm… chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”. Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

    Ðây là giai đoạn cuối cùng của sự phân hủy một tử thi. Ðống xương rải rác trở nên màu trắng vỏ ốc, lâu dần mủn ra thành bột. Gió thổi bột xương bay đi tứ phía, thân cát bụi đã trả về cát bụi. Quán đến tận cùng và sâu xa như thế, vị Tỷ-kheo thấy rõ tính bất tịnh, giả hợp và vô thường của thân. Từ đó, ý thức chấp ngã không còn, vị ấy xa lìa phiền não, chấp trước; đối với bao trở ngại thăng trầm của cuộc sống, vị ấy vẫn thanh thản, bình yên.

    Tóm lại, trong phạm trù về thân, Ðức Phật dạy chúng ta chánh niệm và quán niệm về sáu lĩnh vực, từ trừu tượng như hơi thở, rồi tứ đại giả hợp, đến hình tướng cụ thể như các động tác hay các thành phần của thân; từ lúc thân còn hoạt động nói năng hàng ngày đến khi trở thành một tử thi bất động. Tùy theo từng lĩnh vực mà chúng ta thực hiện chánh niệm hay quán niệm; nặng về quán ngay trên thân mình (quán thân trên nội thân), hay quán thân người để soi lại bản thân mình (quán thân trên ngoại thân), hoặc quán toàn bộ các thành phần bên trong và bên ngoài cơ thể của chính mình (quán thân trên nội thân, ngoại thân). Tất cả phương tiện ấy đều giúp chúng ta xoay trở về con người của mình. Khi dùng ánh sáng trí tuệ soi sáng từng ngõ ngách sâu kín của xác thân, chúng ta sẽ nhận ra bản chất của thân này là bất tịnh, là vô thường, là duyên sinh vô ngã. Thân xác này rõ ràng chỉ là giả hợp, không thật có, không phải là mình. Thân đã không thật thì những thứ thuộc về thân cũng là giả tạm mà thôi. Cho nên, thân tướng của tất cả chúng ta là giả tướng, còn tên họ địa vị quyền lực cũng chỉ là giả danh. Từ đó suy ra, mọi danh vị trên thế gian đều là giả danh, mọi hình tướng trên thế gian đều là giả tướng. Quán chiếu sâu xa như thế, dùng tri kiến như thật nhận rõ tự thân của các pháp, chúng ta sẽ không còn tham đắm bất cứ điều gì. Chúng ta sẽ xa lìa những chấp trước, những khổ đau, an lạc bước từng bước vững chãi trên bao trở ngại của cuộc sống đời thường.

    Có một vấn đề chúng tôi xin đặt ra: Kinh Niệm Xứ là một bài kinh thuộc hệ Pàli. Ðức Phật dạy Chánh niệm qua hơi thở, nội dung là theo dõi hơi thở vào và ra. Ðây là phương pháp Tùy tức. Như vậy, pháp Sổ tức (đếm hơi thở) đã được Ðức Phật dạy vào lúc nào, hay do các vị Tổ đời sau chế ra cho phù hợp với trình độ của các hành giả sơ cơ? Chúng tôi ngưỡng mong các bậc cao minh chỉ bảo thêm, cho vấn đề được sáng tỏ.

II- QUÁN THỌ TRÊN CÁC THỌ.  

Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo khi có cảm giác lạc thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ”; khi cảm giác khổ thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ”; khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ”. Hay khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất”; hay khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất”; hay khi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất”; hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất”. Như vậy, vị ấy sống quán thọ trên các nội thọ; hay sống quán thọ trên các ngoại thọ; hay sống quán thọ trên các nội thọ, ngoại thọ. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các thọ; hay sống quán tánh diệt tận trên các thọ; hay sống quán tánh sanh diệt trên các thọ. “Có thọ đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ.

Lĩnh vực thứ hai trong Bốn Niệm Xứ, mà Ðức Phật dạy chúng ta phải bám sát để theo dõi, là các cảm thọ, từ lúc chúng bắt đầu phát sinh, tồn tại một thời gian cho đến khi hủy diệt. Mục đích là để thực hiện sự chuyển hóa. Theo dõi, nhận diện và chuyển hóa là quá trình của tỉnh thức, mà đối tượng của sự tỉnh thức ở đây là các cảm thọ.

Từ đâu phát sinh ra các cảm thọ? – Ðó là do sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) sinh ra các cảm thọ. Cảm thọ có phát sinh, có tồn tại rồi có hủy diệt; cho nên chúng không có thật và không thường hằng. Ta gọi chúng là Các cảm thọ sinh diệt, gồm chín loại, được phân biệt như sau:

* Phân biệt theo tính chất: Gồm ba loại:
– Khổ
– Lạc: vui
– Bất khổ bất lạc: Còn gọi là Trung tính, tức không khổ không vui.

* Phân biệt theo nơi phát sinh: Có sáu loại: Ðó là các cảm thọ của Mắt khi nhìn thấy Sắc, của Tai khi nghe tiếng, của Mũi khi ngửi mùi, của Lưỡi khi nếm vị, của Thân khi xúc chạm, và của Ý khi duyên theo các pháp.

Mỗi loại cảm thọ từ sáu nơi này, cũng được phân biệt có Khổ, Lạc và Trung tính. Ví dụ, khi tai nghe tiếng khen ta thấy vui thích (Cảm thọ Lạc của tai), nghe tiếng chê ta bực bội (Cảm thọ khổ của tai), nghe tiếng xe chạy hoặc tiếng nói ngoài đường mà ta không có ý niệm hay tình cảm gì (Cảm thọ trung tính của tai). Tương tự cho các căn khác, khi tiếp xúc với các trần tương ứng. Cho nên, theo dõi cảm thọ cũng là con đường nội nhiếp, tức xoay trở lại chính mình. Quán các cảm thọ cũng là thực hiện chánh niệm, cũng là tuệ tri vì dùng trí tuệ để biết. Trong phần này, Ðức Phật dạy chúng ta tuệ tri theo bốn tình huống:

1- Khi có cảm giác lạc thọ, hay khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ.
2- Khi có cảm giác lạc thọ thuộc vật chất hay không thuộc vật chất.
3- Khi có cảm giác khổ thọ thuộc vật chất hay không thuộc vật chất.
4- Khi có cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất hay không thuộc vật chất.

Cảm thọ thuộc vật chất là những cảm thọ phát sinh khi các căn tiếp xúc với những vật có hình tướng. Cảm thọ không thuộc vật chất (tức là tinh thần) phát sinh đối với những gì trừu tượng. Một số ví dụ sau đây sẽ minh họa vấn đề này:

– Khi ăn một món ngon, ta thấy thích thú: Cảm giác lạc thọ thuộc vật chất của lưỡi.

– Khi uống một viên thuốc Quinine quá đắng, ta không ưa: Cảm giác khổ thọ thuộc vật chất của lưỡi.

– Khi nghe một bản nhạc hay, tâm hồn ta lâng lâng khoan khoái: Cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất của tai.

– Khi nhớ đến một kỷ niệm buồn, tâm hồn ta xao xuyến, bồi hồi: Cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất của ý.

Ðức Phật dạy chúng ta khám phá những bí mật ở chính bản thân mình, qua những lĩnh vực mà thoạt nghe, chúng ta thấy thật tầm thường. Ðối với các nhà khoa học, muốn tìm tòi phát minh một vấn đề gì, phải vào phòng thí nghiệm, sử dụng những dụng cụ, những máy móc tối tân. Người tu chúng ta cũng mở ra những cuộc thí nghiệm, cũng dấn bước trên con đường phiêu lưu để tìm lại con người thật xưa nay của chính mình. Nhưng Phật lại bắt chúng ta sống cuộc đời phản quan tự kỷ, miên mật theo dõi từng động tác của cơ thể, rồi từng diễn tiến của những cảm thọ, là những gì ở ngay trong mỗi người chúng ta. Ðiều này có ý nghĩa như thế nào? Kết quả của việc hành trì ấy ra sao? Chúng ta cần nhận định những vấn đề này thật tường tận để có niềm tin kiên cố về phương pháp mình sẽ thực hiện.

Một người tu Phật phải giữ nhiều cấm giới: Ít nhất là năm giới của các cư sĩ tại gia, cho đến hai trăm năm mươi giới của Tỷ-kheo và ba trăm bốn mươi tám giới của Tỷ-kheo ni. Nhưng chung quy, chỉ có một giới điều căn bản: đó là sống tỉnh thức trong chánh niệm. Khi thực hiện chánh niệm trong từng giây phút của cuộc sống, nghĩa là chúng ta luôn luôn đặt tâm vào hiện tại; mọi diễn biến của thân thể, của cảm thọ, chúng ta đều bám sát. Hàng ngày, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, chúng ta có rất nhiều cảm thọ. Nhưng có khi nào chúng ta ý thức được điều này, thường cứ để chúng trôi qua. Bây giờ, chúng ta bám sát các cảm thọ nên theo dõi và nhận diện được chúng; cảm thọ nào phát sinh, ta đều biết rõ. Ðây không phải là lối tu tiêu cực vì không trốn tránh sự thật, không chủ trương diệt trừ cảm thọ, nên không phải là pháp môn đối trị. Thiền Niệm Xứ chỉ sử dụng cái BIẾT bằng trí tuệ, nên ở bất cứ lĩnh vực nào, hoàn cảnh nào, tình huống nào, chúng ta cũng chỉ TUỆ-TRI. Và như vậy, chúng ta có thể thực hiện Thiền pháp này trong mọi oai nghi, mọi nơi mọi lúc. Mục đích của sự theo dõi và nhận diện này, chính là để chuyển hóa các cảm thọ.

Thế nào là chuyển hóa các cảm thọ? – “Chuyển hóa” là kết quả đầu tiên của phương pháp Quán thọ trên các thọ.

Khi theo dõi các cảm thọ, chúng ta thấy tường tận từng diễn tiến của chúng qua ba giai đoạn: sanh khởi, tồn tại và hủy diệt. Thực hiện chánh niệm miên mật từng phút giây, không còn chỗ hở để vọng niệm xen vào, chúng ta sẽ có sức tỉnh giác rất mạnh. Lúc thành tựu chánh niệm, cái hay biết và cảm thọ bị biết trở thành nhất như, chính chúng ta và cảm thọ trở thành một. Nước không nhận chìm được nước, lửa không thể đốt cháy lửa; cũng vậy, khi chúng ta và cảm thọ là một, thì cảm thọ không còn sai sử, chi phối chúng ta được nữa. Không bị cảm thọ sai sử nên chúng ta không còn bị kiết sử, tức trói buộc. Chúng ta sẽ an lạc trong mọi hoàn cảnh, mọi thời khắc, mọi nơi chốn; sống trong trần thế nhưng tự tại với tất cả. Ðó là thực hiện chuyển hóa các cảm thọ.

Tinh thần BÁM SÁT – THEO DÕI – NHẬN DIỆN các cảm thọ để cuối cùng CHUYỂN HÓA, chúng ta có thể áp dụng trong bất cứ tình huống nào, đặc biệt là đối với các nỗi đau khổ về tinh thần hay về thể xác. Có những người mắc một số chứng bệnh nan y, hàng ngày hàng giờ phải chịu nhiều cơn đau mãnh liệt, cùng cực. Như các trường hợp ung thư ở giai đoạn cuối, thầy thuốc phải chỉ định cho họ dùng ma túy để tạm thời cắt cơn đau. Nếu không biết tu, khi cơn đau nổi lên, bệnh nhân chỉ biết lăn lộn, rên rỉ; như thế càng làm cơn đau mạnh hơn, người ấy khó chịu đựng được nếu không có thuốc giảm đau. Nếu chúng ta có sức tỉnh giác, đối diện với cơn đau, nhờ ánh sáng chánh niệm ta theo dõi nó từ lúc bắt đầu phát sinh và suốt thời gian tồn tại. Chúng ta không tìm cách diệt trừ, đè bẹp nó hay trốn tránh nó; chúng ta chỉ TUỆ-TRI nó. Như ánh sáng mặt trời chiếu sáng mọi loài, mặt trời không có ý soi rọi, biến đổi hay nuôi dưỡng sự vật, nhưng muôn vật nhờ ánh sáng mặt trời nên tự thân chuyển hóa. Cũng vậy, thắp sáng sự tỉnh giác lên từng diễn tiến của cơn đau, tự thân cơn đau được chuyển hóa, chúng ta trở thành một với cơn đau, nên dù cơn đau vẫn còn hiện diện, chúng ta vẫn có thể ôm ấp nó, hòa nhập với nó và chịu đựng được nó. Cuối cùng, khi cơn đau biến mất, chúng ta vẫn có mặt ở đó để chứng kiến: đây là giai đoạn hủy diệt của cơn đau.

Kết quả thứ hai của pháp Quán này, là nhận ra được bản chất thật sự của các cảm thọ. Chúng ta biết, cảm thọ do sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tức do duyên mà phát sinh, nên nó vô ngã; cảm thọ thay đổi luôn luôn nên nó vô thường. Vì vô thường và vô ngã nên nó hư ảo, không thật có. Thấy rõ bản chất bất thực và hư ảo của cảm thọ, chúng ta không còn nương tựa và chấp trước, vì không còn bị trói buộc bởi sầu-bi-khổ-ưu-não. Ðây là thành tựu chánh trí, là giải thoát.

Qua hai lĩnh vực Thân và Thọ, chúng ta đã có thể thấy Thiền Niệm Xứ nói riêng và các Thiền pháp nói chung đều là con đường nội nhiếp, là những phương tiện giúp hành giả trở về với con người thật của chính mình. Mới đầu chúng ta cho là quá đơn giản, quá tầm thường, nhưng đến một lúc nào đó, sau một thời gian miên mật chú tâm vào giờ phút hiện tại trên một đối tượng, thì sự hợp nhất giữa mình (là chủ thể quán chiếu) và đối tượng quán chiếu sẽ xảy ra. Chúng ta sẽ thấy, giữa bao ràng buộc của cuộc sống, mình vẫn tự do; giữa bao đau khổ của kiếp người mà mình vẫn ung dung tự tại. Chúng ta sẽ có cơ hội phát minh được việc lớn.

III.- QUÁN TÂM TRÊN TÂM. 

Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo với tâm có tham, tuệ tri: “Tâm có tham”; hay với tâm không tham, tuệ tri: “Tâm không tham”. Hay với tâm có sân, tuệ tri: “Tâm có sân”; hay với tâm không sân, tuệ tri: “Tâm không sân”. Hay với tâm có si, tuệ tri: “Tâm có si”; hay với tâm không si, tuệ tri: “Tâm không si”. Hay với tâm thâu nhiếp, tuệ tri: “Tâm được thâu nhiếp”. Hay với tâm tán loạn, tuệ tri: “Tâm bị tán loạn”. Hay với tâm quảng đại, tuệ tri: “Tâm được quảng đại”; hay với tâm không quảng đại, tuệ tri: “Tâm không được quảng đại”. Hay với tâm hữu hạn, tuệ tri: “Tâm hữu hạn”. Hay với tâm vô thượng, tuệ tri: “Tâm Vô thượng”. Hay với tâm có định, tuệ tri: “Tâm có định”; hay với tâm không định, tuệ tri: “Tâm không định”. Hay với tâm giải thoát, tuệ tri: “Tâm có giải thóat”; hay với tâm không giải thoát, tuệ tri: “Tâm không giải thoát”.

Như vậy, vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm. Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. “Có tâm đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm.

Ở đây, Ðức Phật dạy chúng ta phải bám sát, theo dõi và nhận diện các hoạt động tâm lý của chính mình khi chúng phát sinh, tồn tại và hủy diệt. Ðây là lĩnh vực cực kỳ quan trọng.

Phần này đề cập đến mười sáu loại tâm sinh diệt:

1- Tâm có tham
2- Tâm không tham
3- Tâm có sân
4- Tâm không sân
5- Tâm có si
6- Tâm không si
7- Tâm thâu nhiếp
8- Tâm tán loạn
9- Tâm quảng đại
10- Tâm không quảng đại
11- Tâm hữu hạn
12- Tâm vô thượng
13- Tâm có định
14- Tâm không định
15- Tâm giải thoát
16- Tâm không giải thoát.

Chúng ta cần biết rõ từng ý niệm trong tâm để làm gì? – Theo dõi những tâm hành cũng là con đường nội nhiếp. Khi trở về với đời sống tư tưởng của chính mình, với những đợt sóng sanh diệt trên mặt biển tâm, chúng ta sẽ nhận diện được chúng. Chúng ta không còn đồng hóa mình với các vọng tâm ấy, với các hình thức kiến giải xưa nay, bởi vì tất cả chỉ là bóng dáng của tiền trần. Nhận diện được mọi tâm hành sanh diệt, biết rõ mọi hành tung của chúng, chúng ta mới bắt đầu chuyển hóa được chúng. Mỗi hành giả là một chiến sĩ, vì tu là làm một cuộc cách mạng về nội tâm. Hàng ngày quay cuồng theo ngũ dục, bị lôi kéo bởi những pháp trần, chúng ta để cho các tâm niệm xô đẩy, dập vùi vào những cơn lốc của cuộc đời. Giờ đây, ngồi tọa thiền tĩnh lặng, thấy rõ mọi hình thức sinh diệt trong tâm, và cuối cùng chuyển hóa được nó. Con đường thiền tập, như vậy là con đường thực tế, vì không chạy trốn sự thật, chỉ đem ánh sáng chánh niệm soi thấu từng diễn biến của tâm. Một người biết được mọi hành tung điên đảo của vọng tưởng là người tỉnh giác; đem sự tỉnh giác ấy đi vào cuộc đời, sẽ có lợi cho chính mình và cho mọi người.

Nhưng cái gì biết được mười sáu loại tâm sinh diệt ấy? Ðó là cái Thường Biết, cái biết không sinh diệt. Chúng ta lâu nay tự hào với kiến thức, với những hiểu biết giới hạn của mình, nhưng đó chỉ là công năng của chất xám. Ðến với Thiền, chúng ta không vận dụng chất xám của vỏ não, mà phát huy năng lực của trung não để có cái biết thâm nhập, cái biết không phân tích, không so sánh, không có ý thức nhị nguyên mà Ðức Phật gọi là “tuệ tri”. Chỉ cần tuệ tri, không cần trừ dẹp, đè nén. Ðạo Phật không bao giờ chấp nhận một hình thức bạo động nào, đối với mọi tình huống, mọi đối tượng, kể cả trong công phu tu hành. Ðây là một nét đẹp rất độc đáo của Phật giáo. Hiểu sâu sắc ý nghĩa này để áp dụng vào cách dụng công, chúng ta sẽ tu một cách nhẹ nhàng thoải mái mà có kết quả nhanh chóng, càng tu càng thấy an lạc, thanh lương.

Suy ngẫm lời Phật dạy: “Tỷ-kheo, với tâm có tham, tuệ tri: Tâm có tham; hay với tâm không tham, tuệ tri: Tâm không tham”. Người thế gian thường quan niệm, có tham mới có phấn đấu, nhờ vậy mới tiến bộ. Nhưng thử hỏi, một người hay đua đòi, hay đuổi theo xa hoa vật chất, so với một người biết buông xả, sống đời vô dục vô tham, thì ai hạnh phúc hơn ai? Người tham lam không bao giờ biết đủ, suốt đời cố tạo dựng tài sản sự nghiệp, tìm mọi cách để thỏa mãn những ước muốn ngày càng cao của mình. Ngay cả người tu, có những tâm niệm tốt như muốn thành Phật tác Tổ, đó cũng là tham, dù là cái tham cao thượng. Ngược lại, người không tham vẫn làm việc như mọi người, nhưng làm với tâm không, làm mà không chấp trước. Các vị Thiền sư tổ chức mọi việc trong chùa, nuôi hàng trăm đồ chúng, nhưng các Ngài tính toán mọi việc bằng tâm định tĩnh nên năng suất làm việc rất cao, xử lý chu toàn mọi việc, dù ngang dọc mà vẫn ở trong đạo lý.

Thời Ðức Phật, có một vị Tỳ-kheo tên Bhaddiya. Trong một buổi tọa thiền cùng đại chúng, bỗng nhiên vị ấy la lên thật lớn: “Ôi hạnh phúc! Ôi hạnh phúc! ”. Các vị Tỳ-kheo khác nghĩ rằng, có lẽ vị ấy nuối tiếc quá khứ giàu sang phú quí của mình chăng. Do vậy, các Ngài trình sự việc lên Ðức Phật.

Phật gọi Tỳ-kheo Bhaddiya lên trước đại chúng, hỏi lý do. Ngài Bhaddiya trả lời rằng: “Bạch Thế Tôn! Chính con đã thốt lên câu ấy. Lúc trước, con là quan Tổng trấn, nhà cao cửa rộng kín cổng cao tường, đi đâu cũng có lính hầu, nhưng lúc nào con cũng cảm thấy bất an, phiền não, vì sợ của cải thất thoát, sợ người ám hại, vì phải lo toan đủ mọi điều. Bây giờ con chỉ có ba y một bình bát, sống đời thênh thang như hư không, chẳng sợ mất mát tài sản, chẳng lo có kẻ hãm hại. Lúc tọa thiền, tâm con thấy an lạc hạnh phúc vô cùng nên không kềm giữ được, phải thốt lên những lời như thế”. Ðức Phật bảo các vị Tỳ-kheo: “Tỳ-kheo Bhaddiya đã bước từng bước vững chãi và thảnh thơi trên đường đạo. Niềm vui ấy, đến chư Thiên cũng ao ước, đừng nói chi là con người. Một ngày không xa, chắc chắn Tỷ-kheo Bhaddiya sẽ đạt được Thánh quả”.

Chúng ta thấy rõ kết quả đáng ao ước của một cuộc đời vô tham vô dục. Theo Duy thức học, vô tham là một Thiện-tâm-sở, tham là Ác-tâm-sở. Trong Kinh Niệm Xứ, Phật dạy chúng ta phương pháp nào để được vô tham? – Phật không dạy chúng ta diệt tham bằng cách trốn tránh, xa lánh nó, càng không phải bằng cách kềm giữ, đè nén, mà chỉ bằng tuệ tri thôi. Ðem ánh sáng chánh niệm đi vào tự thân của tham, tham sẽ tự động biến mất. Ðó là thực hiện sự chuyển hóa.

Tương tự cho các loại tâm hành khác, có tâm nào nổi lên, chúng ta cũng chỉ biết một cách nhẹ nhàng. Tất cả mười sáu loại tâm sinh diệt, chỉ cần BIẾT là đủ. Bởi vì đây là cái biết như thật, biết mà không có một ý niệm chủ quan nào xen vào; đây là cái biết hợp với tri kiến không sanh không diệt, biết bằng trực giác không qua trung gian suy luận. Chính là cái biết “Tri kiến vô kiến” trong Kinh Lăng Nghiêm.

Càng đi sâu, chúng ta càng thấy Ðịnh trong Thiền Kinh Niệm Xứ là đại định, thường định, chơn định. Bởi vì, với chỉ một lĩnh vực về tâm, chúng ta đã quán xuyến tất cả tâm hành của chính mình ở mọi nơi mọi lúc, không hạn cuộc thời gian và không gian, không lệ thuộc vào tư thế công phu. Bất cứ ở đâu và lúc nào, chúng ta cũng có thể soi sáng thân tâm mình, miên mật từng phút giây. Rõ ràng các pháp môn Phật dạy đều là tôn trọng sự sống, không hủy hoại các pháp: Ðây là tinh thần vô trú, vô trước, vô nhiễm. Khi ăn ta vẫn biết thức ăn ngon hay dở, chỉ không thêm niệm tham hay sân vào. Chúng ta có quyền bảo dưỡng xác thân để phục vụ cho đời sống tu hành, chúng ta không trấn áp những nhu cầu thiết yếu của bản thân; cũng như người tài xế phải bảo trì chiếc xe để đưa mình đến đích. Có điều, chúng ta phải làm mọi việc bằng chánh niệm. Có chánh niệm soi sáng thực tại, chúng ta sẽ luôn sống với cái “đang là”. Các pháp trở nên hết sức nhiệm mầu, vì tất cả đều ở trong trạng thái như thị.

Bài Kinh Niệm Xứ được thuyết bằng kinh nghiệm của chính bản thân Ðức Phật. Trong sáu năm khổ hạnh rừng già, Phật đã dùng phương pháp bạo động đối với thân thể, cảm thọ và những tâm ý của mình. Vì thế Ngài thất bại. Trở về sự sinh hoạt bình thường, không kềm chế thân tâm, theo con đường Trung-đạo, Ngài đã hoát nhiên đại ngộ sau bốn mươi chín ngày đêm thiền định dưới cội cây Tất-bát-la. Cho nên sau này, đạo Phật luôn luôn chủ trương bất bạo động, từ các pháp môn tu hành đến cách đối nhân xử thế. Ðạo Phật chưa từng có một cuộc Thánh chiến nào, chưa từng có một vết nhơ nào trong lịch sử truyền đạo. Ðến đâu, đạo Phật hòa nhập đến đó, phù hợp với phong tục tập quán của địa phương đó. Bản chất của đạo Phật là tôn trọng sự thật; muôn pháp như thế nào, thấy biết y như thế đó, và cũng truyền trao cho người khác toàn bộ sự thật về con người và cuộc đời. Những lời Phật dạy đều là những chân lý tuyệt đối, không thay đổi theo thời gian và không gian. Kinh Di Ðà dùng một hình tượng rất hay để biểu trưng về sự thật muôn đời trong lời dạy của Ðức Phật, là tướng lưỡi dài rộng che phủ khắp tam thiên đại thiên thế giới (Xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thật ngôn).

Từ phương pháp quán tâm trên đây, chúng ta liên hệ với pháp môn “Tri vọng” của Hòa thượng Trúc Lâm. Vọng là những tư tưởng, tình cảm phát sinh khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Như thế, vọng gồm tất cả mười sáu loại tâm hành sanh diệt. Những niệm khởi lên, chúng ta biết đó là vọng, không theo; vọng ngay đó liền mất. Như vậy, phương pháp này cũng sử dụng cái biết. Mọi hành tung của vọng tưởng đều không thoát khỏi cái biết này, thì có khác gì tinh thần quán tâm trên tâm ở đây? Thật ra, Phật – Tổ đều sử dụng cái Biết để khai thị cho chúng sanh. Từ Kinh Nguyên thủy như Kinh Niệm Xứ, đến các kinh điển Ðại thừa với yếu chỉ rất rõ ràng: “Tri thị không hoa tức vô lưu chuyển, Diệc vô thân tâm thọ bỉ sanh tử – Biết là hoa đốm giữa hư không liền hết lưu chuyển, cũng không có thân tâm để thọ nhận sự sanh tử kia” (Kinh Viên Giác); “Tri kiến lập tri tức vô minh bổn, Tri kiến vô kiến tư tức Niết-bàn – Thấy biết mà thêm thấy biết là gốc vô minh, Thấy biết không thêm thấy biết đó chính là Niết-bàn” (Kinh Lăng Nghiêm). Ðặc biệt trong nhà Thiền, hành giả phải luôn luôn xoay lại chính mình để soi thấu mọi chuyển biến trong tự thân, đó là tinh thần “phản quan tự kỷ”. Khi thấy được tất cả diễn tiến của tâm niệm, hành giả đã bắt đầu phát triển định lực. Tuy vọng niệm vẫn còn, nhưng lúc vọng khởi lên, bất cứ nơi nào thời nào, hành giả đều biết rõ, nên cái biết không bị hạn cuộc bởi thời gian và không gian. Công phu của hành giả tu Thiền là chứng nghiệm vào giờ phút hiện tại, vào trong tự thân của thực tại đang là. Thiền là đời sống chứ không phải là kiến thức, không phải là hành vi của ý thức phân biệt nhị nguyên. Do vậy, sống Thiền là phải luôn tỉnh giác, thắp sáng chánh niệm để nhận rõ mọi ngõ ngách của cuộc sống.

Có một số người chưa hiểu cặn kẽ và chưa hành trì theo phương pháp Tri vọng, vội vàng phê phán là không phù hợp với kinh điển, là vẫn còn phân biệt năng và sở, nên không phải là pháp môn rốt ráo. Ðối với những người sơ cơ, nếu không tạm lập bày từng giai đoạn công phu, ngay lập tức đưa vào chỗ cứu cánh tuyệt đối, thì họ biết đường nào tu hành? Cho nên, trong giai đoạn đầu, Hòa thượng Trúc Lâm dạy chúng ta biết rõ tất cả những ý niệm, tình cảm trong tâm mà lâu nay chúng ta lầm cho là mình, đều chỉ là vọng tưởng. Biết là vọng nên không theo nó; không theo thì không tạo nghiệp. Lúc này, rõ ràng là phải có sự phân biệt giữa năng và sở. Ðến giai đoạn tiếp theo, khi liễu vọng thì cái năng biết cũng phải buông luôn. Tâm chúng ta trở nên an định, rỗng rang, trùm khắp. Trong giai đoạn này, có một số người lại lầm chấp sự an định rỗng rang này là tâm thể của mình, rồi an thân lập mạng trong đó. Nhà Thiền gọi đây là “đầu sào trăm trượng”, phải nhảy thêm một bước. Mạnh dạn buông tay cho chết một lần, từ đó mới có cuộc tái sinh! Bởi vì, cái gì biết được trạng thái yên lặng mênh mông đó? Ðó không phải là cái năng biết, cũng không phải cái sở biết, mà là THƯỜNG BIẾT. Ðây chính là “Ðại sự nhân duyên” mà chư Phật – Bồ tát muốn truyền trao cho chúng sanh.

Hành trì qua hai lĩnh vực quán thân và quán tâm theo lời Phật dạy, chúng ta thấy lóe sáng những điều gì?

Một là, chúng ta thấy rõ ràng, xưa nay chúng ta nhận lầm tấm thân tứ đại này, và những tâm niệm lăng xăng sinh diệt này là mình. Vì chấp đó là tôi, của tôi và tự ngã của tôi, nên phiền não tham sân si cứ theo đó mà dấy khởi, thân khẩu ý cứ mãi tạo nghiệp, lăn lộn trong luân hồi sanh tử không có ngày cùng. Giờ đây chúng ta hiểu ra, cả thân lẫn tâm chỉ đều là duyên sinh giả hợp, nay còn mai mất, không phải thật mình. Vì nó duyên sinh nên nó không có chủ tể, vì nó giả hợp nên không đồng nhất, và vì nay còn mai mất nên nó vô thường, không bất biến. Do không có chủ tể, không đồng nhất và không bất biến, nên là vô ngã. Không còn ý thức chấp ngã, chúng ta đã đạt được mức độ “Giác ngộ hạ”, theo tinh thần của Hòa thượng Trúc Lâm trong “Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ 20”.

Hai là, khi thắp sáng chánh niệm trên từng dòng chảy của tâm, chúng ta thấy rõ tính chất hư ảo của chúng. Con người thường để tâm dong ruổi theo tương lai, nhớ tưởng về quá khứ, không bao giờ bằng lòng với thực tại mình đang sống. Chúng ta cứ luôn thấy mình như thiếu một điều gì, vì thế mãi chạy đi tìm một viễn ảnh mà suốt đời mình không bao giờ bắt được. Từ đó, chúng ta mãi mãi khổ đau vì không thỏa mãn được điều mình mong ước. Cho nên Phật bảo, chúng sanh đang ở trong trường đại mộng, cứ mãi lăn lộn trong mộng tìm những niềm vui tạm bợ, thật đáng thương thay! Giờ đây, biết được bản chất không thật của những tâm hành sanh diệt, chúng ta không còn bị chúng sai sử, chi phối. Ngay đó là giải thoát. Không những giải thoát khỏi mọi sầu bi của cuộc sống, mà hơn thế nữa, do mắc xích tham ái trong mười hai nhân duyên bị chặt đứt, nên mặc nhiên chúng ta giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi.

Ba là, khi quán sâu vào cội rễ của từng tâm niệm, chúng ta phát hiện rằng, các cặp phạm trù tham – vô tham, sân – vô sân… chỉ là hai mặt của một thực thể. Khi có gió, mặt biển dậy sóng; khi không có gió, mặt biển lặng yên; nhưng sóng và biển đều cùng bản chất là nước. Cũng vậy, nếu trở về nguồn cội xa xưa, trong tận uyên nguyên của cuộc sống, chúng ta là những người vô sự. Nhưng do nổi sóng tham sân si, bối giác hiệp trần, chúng ta mất đi sự bình an muôn thuở. Nhưng quê nhà vẫn còn đó, hòn ngọc Như ý vẫn ở đây, chỉ cần chúng ta luôn đặt tâm vào giờ phút hiện tại, dứt bặt mọi ý niệm lưỡng phân, sáu căn không dính mắc với sáu trần; miên mật công phunhư thế, một lúc nào đó đủ thời tiết nhân duyên, chúng ta sẽ trực nhận được cái nguồn cội ấy của vũ trụ nhân sinh. Gã cùng tử lang thang bao đời kiếp đã trở về nhận lại gia tài vốn có của mình!

IV.- QUÁN PHÁP TRÊN CÁC PHÁP.  

1.- Ðối với năm triền cái.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nội tâm có ái dục, tuệ tri: “Nội tâm tôi có ái dục”; hay nội tâm không có ái dục, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có ái dục”. Và với ái dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có sân hận, tuệ tri: “Nội tâm tôi có sân hận”; hay nội tâm không có sân hận, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có sân hận”. Và với sân hận chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với sân hận đã sanh, nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với sân hận đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có hôn trầm thụy miên, tuệ tri: “Nội tâm tôi có hôn trầm thụy miên”; hay nội tâm không có hôn trầm thụy miên, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có hôn trầm thụy miên”. Và với hôn trầm thụy miên chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với hôn trầm thụy miên đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với hôn trầm thụy miên đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có trạo hối, tuệ tri: “Nội tâm tôi có trạo hối”; hay nội tâm không có trạo hối, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có trạo hối”. Và với trạo hối chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với trạo hối đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với trạo hối đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có nghi, tuệ tri: “Nội tâm tôi có nghi”; hay nội tâm không có nghi, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có nghi”. Và với nghi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với nghi đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với nghi đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.

Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái.

Chúng ta đã khảo sát ba chi phần: Thân, Thọ và Tâm. Chi phần thứ tư là quán Pháp trên các pháp.

Khi thực hiện chánh niệm đối với Thân, Thọ, Tâm, chúng ta phát triển quán niệm trên các Pháp để thấy được quá trình sinh khởi, tồn tại và hủy diệt của chúng, cuối cùng thành tựu trí giác Bồ đề. Các pháp đều do duyên sinh, cũng do duyên diệt, nên chúng không có tự thể. Quán tất cả các pháp đều do duyên sinh, chúng ta sẽ thấy rõ vô ngã tính của vạn sự vạn vật, kể cả thân tâm ta. Từ đó, chúng ta thấu triệt được bình-đẳng-tính giữa ta và vạn vật, không còn nhận thức phân biệt ta-người, là một nhận thức lầm lẫn về tự thân và cuộc đời.

Trước tiên, Ðức Phật dạy chúng ta quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái. Triền là trói buộc, Cái là che đậy; Do che đậy bản tâm thanh tịnh nên vô minh, do trói buộc nên làm trở ngại sự giải thoát. Năm triền cái gồm có: Ái dục, Sân hận, Hôn trầm thụy miên, Trạo hối và Nghi. Ðối với mỗi triền cái, chúng ta đều phải quán qua năm tình huống:

1- Nội tâm có triền cái.
2- Nội tâm không có triền cái.
3- Triền cái chưa sanh nay sanh khởi.
4- Triền cái đã sanh nay được đoạn diệt.
5- Triền cái đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa.

Dù trải qua tình huống nào, chúng ta cũng chỉ làm một điều: đó là TUỆ TRI. Muốn có tuệ tri, tức cái biết bằng trí tuệ, trước tiên chúng ta phải thành tựu chánh niệm, sau mới phát khởi trí giác. Nếu quán niệm mà tâm còn loạn tưởng thì chúng ta chỉ thấy các pháp một cách hời hợt trên mặt ý thức. Ý thức chỉ cho thấy ngoài rìa sự vật mà không thể đi sâu vào trong tự thân của các pháp. Cho nên, ý nghĩa của Tuệ tri là thẩm thấu vào trong lòng sự vật, không qua trung gian hiểu biết phân biệt nhị nguyên.

Lúc an trú trong chánh niệm, chúng ta sẽ thấy rõ hành tung của các triền cái. Ðối với ái dục và sân hận, có lẽ mọi người đều hiểu và đều trải qua không biết bao nhiêu lần trong đời. Ðây là tình cảm bình thường vốn có của tất cả chúng sanh trong cõi dục, vì si mê chấp có ta thực người thực, nên sinh tham ái; nếu tham không được thỏa mãn sẽ đưa đến sân hận. Ở đây, điều đặc biệt là Phật không dạy chúng ta làm cách nào để trừ dẹp chúng, mà chỉ dạy chúng ta Tuệ tri. Lúc trí giác Bồ đề đi thẳng vào tự thân các pháp, cái biết hoàn toàn hòa nhập với cái bị biết, thì tự nhiên mọi pháp được chuyển hóa.

Ba triền cái sau đây thường xảy ra với những người tu:

1.- Hôn trầm là trạng thái lơ mơ, nửa mê nửa tỉnh, còn Thụy miên là ngủ gục, thường thấy ở những người ngồi thiền hay đang nghe thuyết pháp. Hôn trầm làm tâm ta bị chìm đắm, không sáng suốt. Khi quán chiếu biết ta đang hôn trầm, tự nhiên nó không còn chi phối được ta. Các vị tu thiền, khi đạt được định sâu, vẫn tỉnh táo sáng suốt dù không ngủ trong thời gian dài. Cũng như Ðức Phật, mỗi ngày chỉ ngủ một giờ, nằm theo tư thế kiết tường, vì thế Ngài được tán thán “Na-già thường tại định”.

2.- Trạo hối gồm Trạo cử và Hối tiếc. Trạo cử có ba: thân trạo là thân động đậy, nhúc nhích mãi không yên; khẩu trạo là miệng nói liên tục, nhiều lúc nói không suy nghĩ, làm tổn hại cho mình và cho người khác; ý trạo là tâm tán loạn, nghĩ vẩn vơ như khỉ chuyển cành. Do thân – khẩu – ý không yên, lại ăn năn hối tiếc những chuyện quá khứ, nên mất đi sự bình ổn nội tâm.

3- Nghi là một chướng ngại tinh thần, làm chúng ta khó tiến bộ trên đường tu, gồm nghi Phật, nghi Pháp và nghi bản thân mình. Nghi Phật và Thầy Tổ có thật sự là người giác ngộ và dạy chúng ta đi đến giác ngộ không; nghi phương pháp chúng ta đang tu có thật sự là con đường giải thoát không; nghi bản thân phước mỏng nghiệp dày, không biết có căn tu không. Ðây là căn bệnh thường gặp của con người, nhất là đối với người trí thức thì hay có lòng nghi đối với thầy và với pháp. Thật ra, các vị thầy hướng dẫn chúng ta tu hành cũng vẫn còn là chúng sanh mang nhiều tập khí phiền não, nếu chúng ta đòi hỏi thầy mình phải thể hiện như một bậc Thánh, mới đủ lòng tin thì chúng ta đã đưa vị thầy lên bục cao thần tượng. Ðó là điều không thực tế. Ðức Phật dạy: Y pháp bất y nhân, chỉ cần vị thầy dạy chúng ta đúng chánh pháp và thầy trò đều tu theo chánh pháp, sống đời thanh tịnh đạo đức, là ta có thể nương theo. Ðối với pháp tu, lúc đầu chúng ta cũng cần đặt nghi vấn để tìm hiểu xem pháp ấy có đúng theo tinh thần Phật dạy không. Khi đã thấu triệt, phải có lòng tin kiên cố không thối chuyển, như thế mới có thể vượt qua bao khó khăn trở ngại về sau. Ðặc biệt là đối với bản thân mình, nhiều người mang nặng mặc cảm tự ti, cho mình là kẻ hạ căn hạ trí, hoặc thậm chí không có căn tu, đến nỗi phải nhờ thầy soi căn giùm. Người thế gian khi buôn bán làm ăn, nếu nghi ngờ khả năng của mình thì đã khó thành công, huống nữa trong việc tu hành là việc làm suốt đời suốt kiếp, đòi hỏi một ý chí xung thiên, một nghị lực siêu tuyệt và một lòng kiên nhẫn vô bờ. Do nghi mình nên không nhiệt tâm tinh cần, không phấn phát được chí khí trượng phu, gặp chướng duyên liền bị lui sụt.

Ở đây, chúng ta cũng cần tìm hiểu rõ nghi tình – nghi niệm trong nhà Thiền, cũng là thủ thuật khai tâm của các vị Thiền Sư Ðường – Tống. Người tu thường có một trạng thái thao thức bồn chồn, luôn luôn tự hỏi: Ai cũng có Phật tánh, sao ta không thể nhận ra một cách trọn vẹn để sống đời giác ngộ giải thoát? Chính niệm nghi này làm tâm hành giả cô đọng lại ở một chỗ để tìm bằng được lời giải đáp. Khi nghi thành một khối, tâm hoàn toàn an định, trí huệ sẽ khai phát. Ðây là hiện tượng “bùng vỡ”, một thuật ngữ thường được sử dụng trong nhà Thiền.

Bằng phương pháp quán niệm đối với năm triền cái, Ðức Phật cũng cốt ý đưa chúng ta đến sự khai mở trí huệ như thế. Chúng ta không phải quán các pháp một cách hời hợt bên ngoài, mà phải đi vào trong tự thân các pháp để thấy được bản chất của chúng một cách thấu thể. Muốn vậy, phải thực hiện chánh niệm, luôn đặt tâm vào giờ phút hiện tại; hướng ánh sáng chánh niệm ấy đến đối tượng quán chiếu. Khi chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức hòa nhập trong trạng thái nhất như, sự “bùng vỡ” sẽ xảy ra, thực tại nhiệm mầu mới hé màn bí mật, hành giả thật sự khai ngộ lý tánh tuyệt đối của con người và vũ trụ. Ðó là lý do vì sao trong Kinh Niệm Xứ, Ðức Phật thường nhắc đi nhắc lại phân đoạn “Sống quán pháp trên các nội pháp, hay sống quán pháp trên các ngoại pháp…”, xem như một điệp khúc không thể thiếu trong trường ca đạo pháp vi diệu này.

Một hành giả tu theo Thiền Niệm Xứ, khi chuyển hóa hết năm triền cái, sẽ thành tựu được năm thiền chi: Tầm, Tứ, Hỉ, Lạc và Nhất tâm. Tầm là hướng vào đối tượng, Tứ là bám sát với đối tượng ấy. Một con ong muốn hút mật hoa, trước tiên nó phải bay xung quanh đóa hoa nhiều vòng, đó là Tầm; sau đó bám vào hoa và say mê hút mật như là nhập làm một với hoa, đó là Tứ. Ðoạn trừ Hôn trầm thụy miên là đạt được Tầm và Tứ; đoạn trừ Trạo hối và Nghi là đạt Nhất tâm; đoạn trừ Ái dục và Sân hận là đạt được Hỉ, Lạc. Ðây là niềm vui nhẹ nhàng thanh thản, không giống như khoái lạc của ngũ dục. Niềm vui trong thiền định có được khi tâm không còn tán loạn, không duyên theo trần cảnh; có tính chất tươi mát, trong sáng, làm cả thân và tâm đều cảm thấy êm ả nhẹ nhàng. Còn khoái lạc của ngũ dục thường rõ nét, sâu đậm nhưng lại vô thường nên gây đau khổ cho người khi nó biến mất. Một miếng ngon làm thích thú nhưng chỉ được vài mươi giây ở miệng, một mùi thơm cũng thoáng qua nơi mũi, một lời khen ngợi làm ta vui… tất cả đều như cơn gió thoảng! Cho nên, các bậc Thánh khi đã đạt được niềm vui thiền định, nhìn thấy chúng sanh mãi mê thụ hưởng ngũ dục lục trần, liền khởi tâm đại bi nguyện lăn lộn vào chốn hồng trần để cứu vớt chúng sanh.

2.- Ðối với năm thủ uẩn.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy tư: “Ðây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập, đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập, đây là tưởng diệt. Ðây là hành, đây là hành tập, đây là hành diệt. Ðây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt”. Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn.

Năm uẩn còn gọi là năm ấm. Uẩn là tích tụ, nhóm họp; thân tâm một chúng sanh hữu tình do năm yếu tố hợp lại mà thành, đó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ấm là che đậy, do năm yếu tố che đậy bản tâm thanh tịnh sẵn có của chúng sanh. Trong Kinh Niệm Xứ, Ðức Phật dùng từ “Thủ uẩn” thật hay và thật chính xác. Thủ uẩn nghĩa là chấp vào năm uẩn cho đó là ta, của ta và tự ngã của ta.

Trong năm uẩn, sắc uẩn tạo thành thân, bốn uẩn còn lại tạo nên tâm thức của chúng ta. Quán niệm đối với sắc uẩn, chúng ta thấy rõ thân xác của mình từ đầu đến chân, từ ngoài vào trong. Thân này do bốn đại hợp thành lúc đủ duyên, đến khi duyên hết thì mỗi đại đi mỗi ngã: chất cứng như da thịt gân xương trả về đất, chất lỏng như nước mắt, máu… trả về nước, chất ấm trả về lửa, chất động như hơi thở trả về gió. Khoa học cũng đã cho ta thấy tường tận cấu tạo của cơ thể con người, chỉ là tập hợp của những tế bào mang nhiều nhiệm vụ khác nhau, mà điểm khởi thủy là sự kết hợp giữa tinh trùng của người cha và trứng của người mẹ. Phân tích chi ly đến tận cùng, chúng ta cũng chỉ thấy những vòng xoắn ADN và ARN mang những bộ mã di truyền. Vậy thì, có gì là “ta” ở đây?

Trong thiền định sâu, chúng ta có thể quán chiếu rõ ràng từng uẩn với ba quá trình sinh khởi, tồn tại và hủy diệt của chúng, theo cách mô tả ở trên. Sinh khởi là “tập”, tồn tại một thời gian, hủy diệt là “diệt”. Cho nên, khi Ðức Phật dạy chúng ta tư duy: “Ðây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt. Ðây là thọ… Ðây là tưởng… Ðây là hành… Ðây là thức…”, Ngài đã bảo chúng ta, ngay thời điểm hiện tại mà quán triệt được cả năm uẩn trong suốt ba thời. Quán niệm thành tựu, chúng ta sẽ giác ngộ được lý Vô ngã. Từ đó, thấy mình và tất cả chúng sanh đều bình đẳng không hai không khác. Chúng ta cũng thấy được sự liên hệ chặt chẽ, trùng trùng duyên khởi của các pháp, theo ý nghĩa của bài kệ sau đây:

Thử hữu cố bỉ hữu
Thử vô cố bỉ vô
Thử sanh cố bỉ sanh
Thử diệt cố bỉ diệt.

Tạm dịch:

Ðây có nên kia có
Ðây không nên kia không
Ðây sanh nên kia sanh
Ðây diệt nên kia diệt.

Thật vậy, nếu thân năm uẩn của chúng ta thiếu đi một hay hai uẩn, có còn là thân nữa không? Suy diễn ra tất cả các pháp bên ngoài, cũng đều nương nhau mà tồn tại. Vạn vật sinh trưởng nhờ ánh sáng mặt trời, nếu mặt trời bị hủy diệt thì tất cả sự sống đều biến mất. Ngay cả con người, tự cho là trung tâm của vũ trụ, là vạn vật tối linh, nếu không có ánh sáng mặt trời sưởi ấm, không mượn các thứ dinh dưỡng bên ngoài, liệu có thể duy trì mạng sống được không? Chúng ta chỉ hơn các chúng sanh hữu tình khác ở cấu tạo não bộ và hệ thần kinh tinh vi và hoàn chỉnh, có hoàn cảnh chánh báo và y báo tốt đẹp hơn nên có thể tu tập và thành tựu giác ngộ ngay trong hiện đời. Nhưng nếu xét về tự tánh, thì mọi loài đều sẵn đủ như nhau, ở Phật không thêm mà ở phàm cũng chẳng bớt. Hiểu sâu sắc những điều này, chúng ta sẽ có một quan niệm đúng đắn về thân năm uẩn, không lệch lạc chủ quan: Biết thân tâm do duyên hợp, hư dối không thật nên không đam mê chấp trước vào nó; nhưng không vì thế mà hành hạ, bạc đãi nó. Ngược lại, phải cung cấp cho nó những phương tiện tối thiểu cần thiết để nó có thể hoạt động tốt, nhờ nó giúp ta tiến tu cho đến ngày viên thành Thánh quả.

3.- Ðối với sáu nội ngoại xứ.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo tuệ tri con mắt và tuệ tri các sắc, do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy… tuệ tri tai và tuệ tri các tiếng… tuệ tri mũi và tuệ tri các hương… tuệ tri lưỡi và tuệ tri các vị… tuệ tri thân và tuệ tri các xúc, tuệ tri ý và tuệ tri các pháp; do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ.

Trong có sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) là sáu nội xứ, ngoài có sáu trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) là sáu ngoại xứ. Mỗi căn có một trần tương ứng, tạo thành một cặp phạm trù riêng biệt, không thể lẫn lộn nhau hay thay thế nhau. Phạm vi của mắt là sắc, mắt không thể nghe tiếng…, tương tự cho các căn trần khác. Khi căn duyên với trần, kiết sử sanh khởi. Kiết là trói buộc, sử là sai khiến; đó chính là Tham – Sân – Si. Lúc thấy sắc đẹp, si mê nổi dậy, sinh lòng ái luyến (tham). Nếu lòng tham không được thỏa mãn, sanh sân hận.

Kinh Lăng Nghiêm có một đoạn nói về sáu căn rất sâu xa; và đó cũng là yếu chỉ của nhà Thiền: Ngài A Nan thỉnh Phật chỉ dạy, cái gì là nguồn gốc của phiền não sinh tử, cái gì là nguồn gốc của giải thoát Niết-bàn? Ngay lúc ấy, mười phương chư Phật dị khẩu đồng âm, đều trả lời rằng: “Cội gốc của phiền não sinh tử là sáu căn của ông, còn cội gốc của giải thoát Niết-bàn cũng là sáu căn của ông chứ không đâu khác”. Sơ tổ Trúc Lâm Yên Tử, Ngài Ðiều Ngự Giác Hoàng, trong bài “Cư Trần Lạc Ðạo Phú”, có bốn câu kệ như sau:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích

Ðối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Hòa thượng Trúc Lâm dịch:

Ở đời vui đạo khéo tùy duyên

Ðói đến thì ăn, mệt ngủ liền

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm

Ðối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.

Nếu sáu căn duyên theo sáu trần, kiết sử sẽ sanh khởi: như nghe tiếng hát hay, sanh tâm ưa thích; lúc đầu ưa thích giọng hát, sau dần dần thích luôn người hát… Từ ưa thích (ái) sanh ý muốn chiếm hữu cho riêng mình (thủ)… Ðó là những mắc xích buộc ràng của thập nhị nhân duyên, giải thích thấu đáo nguồn căn của luân hồi sinh tử. Chúng ta tu, hiểu được lý duyên sinh vô ngã, biết căn trần đều không thật, nên khi tiếp xúc với cảnh không khởi tâm phân biệt tốt xấu hay dở. Ðối cảnh không tâm, chính đó là thiền, ngay đó là Niết-bàn giải thoát.

Ở đây, Ðức Phật dạy chúng ta tuệ tri đối với từng cặp phạm trù căn và trần, theo năm tình huống:

1- Tuệ tri căn và tuệ tri trần tương ứng: Mắt với sắc, tai với tiếng, mũi với hương, lưỡi với vị, thân với xúc, ý với các pháp.

2- Khi căn duyên với trần, phát sinh kiết sử.

3- Kiết sử chưa sanh nay sanh khởi.

4- Kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt.

5- Kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa.

Như vậy, điều thiết yếu là chúng ta phải nhận diện được ngay khi kiết sử phát sinh, theo dõi quá trình tồn tại và đoạn diệt của kiết sử. Hoàn toàn không có ý niệm trừ dẹp hay loại bỏ kiết sử, mà chỉ nhận diện để quán xuyến mọi mối manh, mọi hình tướng của chúng. Khi quán chiếu một cách sâu xa, chúng ta thấy rõ thân tâm và cảnh đều không có thực thể, vì đều do duyên sinh. Sáu căn không thật, tác động với sáu trần không thật, phát khởi tâm đối đãi phân biệt cũng là hư dối, thì kiết sử có thật đâu? Ngay đó là giải thoát phiền não.

Liên hệ với phương pháp biết vọng của Hòa thượng Trúc Lâm, chúng ta thấy hoàn toàn tương đồng. Khi làm việc, năm căn đầu (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) tiếp xúc với năm trần tương ứng, phát sinh những tư tưởng khen chê, tốt xấu, yêu ghét…; đây là Tiền-ngũ-thức, danh từ của Duy-thức-học. Lúc ngồi yên hay tọa thiền, những bóng dáng đã in vào tâm thức của chúng ta khi tiếp xúc với cảnh từ trước, nay trổi dậy; đây là ý căn duyên với pháp trần phát sinh Ý thức. Thật ra, ý căn là thành tố của hệ thần kinh trung ương, chỉ động vật cấp cao mới có. Nó cũng là vật chất nhưng dưới dạng rất vi tế, nên còn được gọi là Tịnh-sắc-căn hay Thắng-nghĩa-căn. Như vậy, tất cả những ý tưởng tình cảm mà lâu nay chúng ta cho là thật mình, để gây ra tranh chấp bất hòa khi không cùng ý kiến, Hòa thượng gọi tất cả là “Vọng”. Biết đó là vọng không thật thì không cần đoạn trừ tiêu diệt, chỉ không theo nó, nó liền biến mất. Ngay đó tâm liền an. Thật đơn giản mà kết quả quá tuyệt vời!

4.- Ðối với Bảy Giác chi.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác Chi. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác Chi? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo nội tâm có niệm giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi có niệm giác chi”; hay nội tâm không có niệm giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có niệm giác chi”. Và với niệm giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với niệm giác chi đã sanh, nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có trạch pháp giác chi… (như trên)… hay nội tâm có tinh tấn giác chi… (như trên)… hay nội tâm có hỷ giác chi… (như trên)… hay nội tâm có khinh an giác chi… (như trên)… hay nội tâm có định giác chi… (như trên)… hay nội tâm có xả giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi có xả giác chi”; hay nội tâm không có xả giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có xả giác chi”. Và với xả giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với xả giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy. Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi.

Bảy Giác Chi còn gọi là Thất Bồ Ðề phần, là bảy phẩm trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo(*). Giác là giác ngộ, Chi là phần. Ðây là bảy phương tiện tu tập giúp hành giả từng bước giác ngộ, khi thành tựu viên mãn sẽ đạt đến giác ngộ tột cùng. Bảy Giác chi, gồm có: Niệm, Trạch pháp, Tinh tấn, Hỉ, Khinh an, Ðịnh và Xả.

Vì sao Ðức Phật đề cập đến Niệm giác chi đầu tiên? “Niệm” ở đây là Chánh niệm, tâm luôn luôn an trú vào giờ phút hiện tại, chứ không phải những vọng niệm lăng xăng tán loạn. Khi có chánh niệm, chúng ta sẽ theo dõi được từng hành tung của tâm thức, dù được ngụy trang dưới bất cứ hình thức nào. Chúng ta sẽ tuệ tri lúc nội tâm có chánh niệm hay không có chánh niệm; lúc chánh niệm mới sanh khởi hay được tu tập viên thành. Phải có sự miên mật từng phút giây mới có giác ngộ, vì vậy mới được gọi là Giác chi. Mỗi chi phần sau, muốn thực hiện quán niệm có kết quả, cũng phải có chánh niệm đi đầu. Vì vậy, Niệm giác chi là phương tiện thiết yếu.

Có một điểm rất tế nhị mà Ðức Phật muốn chúng ta phải khéo nhận ra. Ðây cũng là ý chỉ của toàn bộ bản kinh này. Khi nội tâm có niệm giác chi, tuệ tri được điều đó vì ta đang chánh niệm. Nhưng khi nội tâm ta không có niệm giác chi, nghĩa là ta đang thất niệm, tại sao ta vẫn tuệ tri được tức khắc? Như vậy, có một cái Biết luôn luôn hiện diện, bất cứ lúc nào và ở đâu. Cái Biết đó là gì? Chúng ta phải bơi lội trong công phu, phải miệt mài thiền tập mới hy vọng có thể chứùng nghiệm được điều này.

Về Trạch pháp giác chi, chúng ta phải hiểu theo hai nghĩa: Trạch pháp là quyết trạch về các pháp, phân biệt pháp chánh tà, thiện ác, đúng sai. Ðây là cái hiểu của ý thức, ở cấp độ thấp. Theo tinh thần bản Kinh Niệm Xứ, Trạch pháp giác chi nghĩa là nhờ chánh niệm nên hành giả thấy rõ các pháp trong tận cùng nguồn cội thâm sâu của chúng. Ðây là cái thấy của trực giác nên thấu suốt được lý tánh tuyệt đối của các pháp. Nhờ chánh niệm mới có trạch pháp, vì vậy gọi là Trạch pháp giác chi.

Khi thấu suốt được mọi sự mọi vật trong tận uyên nguyên của chúng, ta cũng quán triệt được lý duyên sinh và vô ngã của các pháp bên ngoài, cũng như thân tâm của chính bản thân ta. Từ đó, chúng ta có một niềm tin kiên cố không gì lay chuyển nổi, rằng trong cái vô thường sanh diệt của thân tâm và cảnh, vẫn luôn luôn hiện hữu một pháp thân chân thường chưa hề sanh diệt; và con đường Phật-Tổ dạy chúng ta đi là con đường đúng đắn trở về sống với cái chân thường ấy. Lúc niềm tin được vững chắc mạnh mẽ, thì không có một trở lực nào có thể ngăn được bước tiến của chúng ta, dù đến từ bên ngoài hay ở ngay bên trong. Ðây là tinh thần của Tinh tấn giác chi. Nếu người tu mà không giữ thời khóa công phu đều đặn, kỹ luật tu hành lỏng lẻo, thì không thể nào thành tựu giác ngộ. Chúng ta có thể coi thường tài sản vật chất, danh lợi ngoài thế gian và trong đạo, thậm chí coi thường cả tính mạng, nhưng không được giải đãi trong công phu. Dù học đến thiên kinh vạn quyển, hiểu được đạo lý một cách sâu sắc, thì đó cũng chỉ là vay mượn kiến thức bên ngoài chứ chưa thực hiện sự tu chứng bên trong. Do vậy, sự tinh tấn rất cần thiết trong đời sống tu hành.

Trong mười đại đệ tử của Phật, ngài A Na Luật được tôn xưng là Thiên nhãn đệ nhất. Câu chuyện của Ngài đã minh chứng được tinh thần của Tinh tấn giác chi. Ngài có đạo tâm rất kiên cố nhưng lại có tật hay ngủ, ngay cả khi Phật đang thuyết pháp. Trong một buổi giảng, thấy Ngài đang ngồi ngủ gục, Ðức Phật đã quở trách nặng nề:

“Dốt thay kẻ mê ngủ

Thu mình trong vỏ sò

Một giấc ngủ ngàn năm

Không nghe danh hiệu Phật”.

Ngài chí thành sám hối và nguyện trước Phật, suốt đời sẽ không ngủ nữa. Từ đó Ngài nỗ lực tinh tấn tu hành, do không nhắm mắt ngủ nên hai mắt bị mù. Ðức Phật thấy Ngài giữ vững bản nguyện nên dạy Ngài tu tập “Kim Cang Chiếu Minh tam muội”. Chẳng bao lâu, Ngài chứng được Thiên nhãn thông, thành tựu Thánh quả.

Khi có sức chánh niệm khá, tâm bắt đầu được định tĩnh, hành giả sẽ cảm thấy một niềm vui nhẹ nhàng thoát tục, không diễn tả được, đó là Hỉ giác chi. Tiến một bước nữa, là trạng thái an lạc tự tại dù còn mang thân năm uẩn, có thể toát ra bên ngoài khiến người khác cũng nhận ra. Chúng ta thường thấy điều này khi có duyên gần gũi với bậc minh sư. Ngài không cần nói hay có một hành động nào, chỉ cần chúng ta đối trước Ngài là cảm nhận được một không khí tươi mát thanh lương bao trùm, mà ta thường gọi là từ trường của bậc chân tu. Vị nào đạt được Khinh an giác chi đều có thể có một từ trường như thế.

Tiến thêm một bước, thân tâm trở nên nhất như, mọi vọng niệm đều bặt dứt. Tâm không khởi niệm nhưng những gì xảy ra chung quanh ta đều biết. Ðây là Ðịnh Giác chi. Chúng ta sẽ khó hiểu được trạng thái này nếu không hạ thủ công phu, bởi vì con đường tu Phật không phải nhờ vào những khái niệm lý thuyết, mà bản thân phải tự chứng nghiệm qua sự hành trì. Tuy nhiên, dù đạt đến những tầng thiền định sâu, cũng chưa phải là cứu cánh. Nếu mãi chấp vào trạng thái này, hành giả sẽ rơi vào Si định, nhà Thiền gọi là Tử thủy (nước chết). Ðây là đầu sào trăm trượng, phải nhảy thêm một bước, tức phải buông xả hoàn toàn, không còn có người định, không có trạng thái định và không có phương pháp đạt định. Ðức Phật gọi bước cuối cùng này là Xả giác chi, một bước quyết định để đạt được giác ngộ tối thượng. Nói theo tinh thần Bát nhã, phải phá sạch mọi chấp trước, kể cả chấp vào quả vị tu chứng, nghĩa là vô sở cầu vô sở đắc. Như thế mới trở về với pháp tánh thậm thâm vi diệu, mới là rốt ráo giải thoát.

5.- Ðối với Bốn Thánh đế.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị ấy sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh Ðế. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh Ðế? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ”; như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ tập”; như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ diệt”; như thật tuệ tri: “Ðây là con đường đưa đến Khổ diệt”. Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế.

Bốn Thánh đế hay Tứ Diệu Ðế, gồm Khổ – Tập – Diệt – Ðạo, là một trong hai nội dung rất quan trọng trong kinh điển A-Hàm (nội dung kia là 12 nhân duyên). Hành giả y vào bốn Thánh đế, có thể thành tựu bốn quả giác ngộ từ thấp lên cao là Tu-Ðà-Hoàn, Tư-Ðà-Hàm, A-Na-Hàm, A-La-Hán; nếu y vào mười hai nhân duyên thì thành tựu quả vị Duyên Giác.

Ðế là chắc thật, không sai lầm. Gọi “bốn Thánh đế” có ý nói, khi thâm nhập sâu sắc về bốn đế, hành giả sẽ đạt được Thánh quả. Gọi “Diệu đế” là ngầm tán thán pháp môn này rất vi diệu, nhiệm mầu. “Như thật tuệ tri” nghĩa là tuệ tri một cách như thật, hiểu biết một cách thấu thể nơi tận cùng uyên nguyên của bốn đế.

Trước tiên, Ðức Phật dạy chúng ta, khi đã thành tựu chánh niệm, phải phát triển quán niệm về Khổ đế. Là con người, không ai tránh được tám điều khổ: Sanh, già, bệnh, chết, cầu mong không được như ý, xa cách người mình yêu thương, gặp gỡ kẻ mình chán ghét và thân tâm lẫy lừng, gây ốm đau hay khó chịu. Ðức Phật vạch ra một cách minh bạch không che giấu lẽ thật này của cuộc đời, khiến chúng ta thấy rõ trên thế gian không có hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu, như từ lâu chúng ta lầm tưởng. Có phải Ngài bi quan quá không? Có phải đạo Phật là một đạo tiêu cực yếm thế không?

Nếu nghiên cứu kỹ giáo lý Phật đà, chúng ta sẽ thấy những điều Phật dạy đều là chân lý muôn đời. Ðạo Phật không trốn tránh sự thật. Ðạo Phật nhìn thẳng, nhìn xuyên suốt vào sự thật để tìm cách chuyển hóa nó. Ðối với Ðệ nhất Khổ đế này cũng vậy. Khổ là một lẽ thật của con người và cuộc đời. Ðức Phật không bày đặt ra, Ngài chỉ nhận rõ nó và nêu lên cho mọi người cùng thấy. Ngài không muốn chúng ta chỉ hiểu một cách cạn cợt, mà phải thâm nhập vào nó, phải “như thật tuệ tri” đối với nó. Lúc đó, Khổ đế sẽ là chất liệu nung nấu cho chúng ta trên bước đường tu tập, vì có thấm thía được khổ đau vào tận xương tủy, chúng ta mới đêm ngày tìm phương thoát khổ.

Nguyễn Công Trứ đã nói:

“Thoạt sinh ra thì đà khóc chóe

Trần có vui sao chẳng cười khì? ”

Con người mới sinh ra đã khóc, có phải đã biết trước cuộc sống của mình gắn liền với khổ đau? Thật ra, tiếng khóc đầu tiên lúc lọt lòng mẹ là điều kiện tiên quyết để hệ hô hấp bắt đầu hoạt động, đưa không khí vào phổi và vào vòng tuần hoàn. Nếu không có tiếng khóc đó, trẻ sẽ không sống được, cho nên tiếng khóc là tối cần, liên hệ với cái khổ của cuộc đời cũng vậy. Khổ tuy ghê gớm, nhưng cũng là điều cần thiết và mầu nhiệm nữa. Vì sao nói như vậy? – Vì khổ là một động lực thúc giục loài người hướng thượng và thể nhập vào tận cõi miền sâu xa nhất của cuộc sống. Khi đau, ta mới biết không đau là hạnh phúc. Khi đau khổ tột cùng, ta mới thấy giải thoát khỏi đau khổ là sung sướng vô biên. Mặt khác, những người đã nếm mùi cay đắng, đã nhiều lần thất bại trên đường đời thì mới đầy đủ kinh nghiệm sống, trình độ tâm linh của họ mới cao. Nhiều vị Thiền sư, do ý thức được Khổ đế nên có thể chứng ngộ lúc bị cơn bệnh hoành hành dữ dội.

Vậy thì nguyên nhân của Khổ là ở đâu? Ðây là Tập đế. Nếu nói về tình cảm, khổ là do lòng tham của con người, tham không được thỏa mãn sẽ sinh sân hận. Nếu nói về lý trí, khổ do vô minh mà ra. Hòa thượng Trúc Lâm đã giảng về Vô minh rất chi tiết và cụ thể, gồm ba cấp độ:

– Vô minh thượng: Chấp thân tứ đại vô thường này và tâm lăng xăng sinh diệt này là mình. Ðây là ý thức chấp ngã, bệnh chung của tất cả mọi người.

– Vô minh trung: Vọng niệm dấy khởi làm che mờ tánh giác, như bụi che lấp mặt gương. Cấp độ vô minh này vi tế hơn ở trước, vì vừa dấy niệm đã là vô minh rồi.

– Vô minh hạ: Quên mình có tánh giác bản nhiên thanh tịnh, như người lạc đường, càng đi càng xa nguồn cội. Ðây là cái mê căn bản, là gốc của sinh tử luân hồi.

Như vậy, nguyên nhân đau khổ là Tham – Sân – Si. Biết được nguyên nhân, chúng ta mới biết cách thoát khổ, ấy là làm thế nào đoạn trừ được ba thứ độc này. Quán niệm thành tựu về nguyên nhân của khổ đau, chúng ta đã như thật tuệ tri về Khổ tập.

Giai đoạn thứ ba, Phật dạy chúng ta như thật tuệ tri về Khổ diệt. Diệt là dập tắt. Khi những nguyên nhân của khổ được dập tắt, đoạn trừ, sẽ chứng được Niết-bàn. Ðây là trạng thái không còn bóng dáng đau khổ, không còn sinh tử chi phối. Nghĩa của Niết-bàn (Nirvàna) là Vô sanh, cũng là không thêu dệt (với ý không thêu dệt sinh tử). Một lần nữa, chúng ta lại thấy Ðức Phật quả là một nhà tâm lý học đại tài. Vì biết chúng sanh ham thích vui vẻ sung sướng, nên Ngài giảng về Diệt đế trước, với hình ảnh một cảnh Niết-bàn rất hấp dẫn. Khi chúng sanh, do thấy rõ trần gian là khổ còn Niết-bàn là an vui, phát tâm tu hành, Ðức Phật mới dạy về Ðạo đế. Ðây là giai đoạn cuối cùng trong quán niệm về Bốn Thánh đế, phải như thật tuệ tri về “Con đường đưa đến Khổ diệt”, chính là những phương pháp tu hành Phật giảng trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, mà Kinh Niệm Xứ là bốn trong ba mươi bảy phẩm ấy.

Ở đây, có hai điểm quan trọng mà chúng ta cần quan tâm khi quán niệm về Bốn Thánh đế:

Thứ nhất, muốn quán niệm thành tựu, chúng ta phải có chánh niệm. Bởi vì, nếu nhìn cuộc sống chung quanh bằng sự tỉnh thức, chúng ta mới thấy rõ, đau khổ là chuyện không tránh khỏi của kiếp người; và nếu nhận được thấu thể bản chất của khổ, khổ ấy sẽ trở thành thắng duyên trên đường tu của chúng ta. Trong Kinh Nikàya, Ðức Phật nói đến bốn loại ngựa để liên hệ với bốn hạng người: Loại thứ nhất, mới nhác thấy bóng roi liền phi nước đại, tương đương với hạng người có duyên với Phật pháp nhiều đời, mới nghe bất cứ đâu có người bệnh chết là đã phát tâm tu hành. Loại thứ hai, roi đánh nhẹ vào da đã chạy, tương đương với hạng người nghe tin bà con quyến thuộc mình bệnh chết, tỉnh ngộ phát tâm. Loại ngựa thứ ba, phải đánh mạnh vào thịt mới chịu chạy, tương đương với những người thấy cha mẹ vợ chồng mình bệnh chết, mới thấy đời là khổ, muốn tu. Loại ngựa thứ tư quá tệ, đợi đánh thật sâu vào xương cốt mới chạy, tương ứng với hạng người hạ liệt, suốt đời ham thích dục lạc thế gian, đến lúc bản thân mình đau ốm mới phát tâm tu hành. Nhưng dù sao, cả bốn hạng người trên đều được cái khổ thức tỉnh. Trong cuộc sống, chúng ta còn thấy một hạng người “ngoại hạng”, dù bản thân tàn tật ốm đau hay nghèo hèn đến tận cùng dưới đáy xã hội, vẫn chưa một lần biết chữ Phật là gì. Những người này thật rất đáng thương! Cho nên các vị hành hạnh Bồ tát, một mặt giúp họ vật chất để qua được những lúc ngặt nghèo, mặt khác cũng chỉ bày đạo lý, để nếu kiếp này họ không tu được, cũng có thể gieo một chủng tử cho đời sau.

Ðiểm quan trọng thứ hai, chúng ta đã học nhiều về Tứ Diệu Ðế, đều biết đây là hai cặp phạm trù nhân quả: nhân quả thế gian là Khổ – Tập, nhân quả xuất thế gian là Diệt – Ðạo, trong đó Ðức Phật diễn tả quả trước nhân sau. Ðây là lối giảng dạy có tính sư phạm, theo suy luận của thế gian nên có tiến trình từ nhân đến quả, trước sau theo thứ tự. Giảng một cách rõ ràng trình tự như vậy, mọi người mới có thể hiểu được, sau đó mới tu theo. Còn đi vào đạo lý, tự thân Bốn Thánh đế không phải là những cặp phạm trù nhân quả lệ thuộc thời gian, vì thời gian chỉ là con đẻ của vọng tưởng. Bốn đế nói riêng và nhân quả nói chung, không phải bị đặt vào vị trí một cách cứng nhắc cố định là nhân trước quả sau theo một con đường thẳng, mà giữa chúng có một liên hệ xoắn xít hỗ tương trùng trùng duyên khởi: Một nhân có thể có nhiều quả và ngược lại, quả tạo ra lại trở thành nhân của những quả mới hay trở lại tác động lên chính cái nhân cũ của nó. Sự tác động qua lại ấy là vô cùng vô tận, giống như trong căn phòng toàn là gương, một vật để vào đó sẽ có vô số hình ảnh hiện lên. Do vậy, khi học Phật, chúng ta phải đâm thủng chữ nghĩa mới thấy Phật pháp thật sống động, chứ không phải là những dòng chữ chết. Nếu hiểu lời Phật dạy một cách quá cứng nhắc, quá nguyên tắc, chúng ta sẽ không có óc sáng tạo, không bắt kịp đà tiến hóa của nhân loại, thì lối tu của chúng ta sẽ ù lì, xơ cứng. Ðời sống Thiền tập phải là, một mặt sống với bản tâm thanh tịnh thường nhiên, một mặt phát huy diệu dụng của tự tánh. Cho nên, khi chánh niệm đã thành tựu, tâm được an định, hành giả đôi khi cần phải phiêu lưu vào tận những cõi miền sâu xa của cuộc sống, để thâm nhập được thực tại trong tận uyên nguyên của nó. Ðức Phật đã dạy: “Này các Tỷ-kheo, hãy đến đây, đến để mà thấy! “Chữ “đến đây” không phải là đến gần Ngài nghe pháp, mà hành giả phải bằng công phu thiền tập để đến được bờ kia. Nhờ công phu mới có thể đến, đến mới thấy được thực tại nhiệm mầu!

C.- KẾT LUẬN. 

Này các Tỷ-kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, không cần gì đến bảy năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này như vậy trong sáu năm, trong năm năm, trong bốn năm, trong ba năm, trong hai năm, trong một năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-Kheo, không cần gì đến một năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này trong bảy tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-Kheo, không cần gì đến bảy tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này trong sáu tháng, trong năm tháng, trong bốn tháng, trong ba tháng, trong hai tháng, trong một tháng, trong nửa tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, không cần gì nửa tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn… Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm Xứ.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

Theo tâm lý thông thường của con người, làm việc gì cũng mong có kết quả, ngay cả việc tu hành. Ðức Phật biết rõ điều đó, nên trong phần cuối của bản Kinh, Ngài cũng nhấn mạnh những kết quả có thể đạt được, nếu chúng ta nỗ lực làm theo lời Ngài chỉ dạy. Lời Phật nói quyết không hư dối, quan trọng là chúng ta phải tinh tấn công phu, duy trì sự tỉnh thức khi động cũng như lúc tịnh, thường xuyên chánh niệm và quán niệm trên bốn lĩnh vực Thân – Thọ – Tâm – Pháp. Làm đúng như vậy, chúng ta sẽ thấy kết quả như sau:

Thời hạn dài nhất, đối với người căn tánh ám độn, nghiệp chướng sâu dầy, theo Ðức Phật là bảy năm. Sau thời hạn này, hành giả có thể chứng một trong hai quả: “Chánh trí” là A-la-hán quả, thoát khỏi luân hồi, đẩy lui vô minh, chứng nhập Niết-bàn ngay trong hiện đời; nếu còn tập khí chưa được đẩy lui hết, vô minh vi tế chưa được đoạn trừ, tức còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn là A-na-hàm quả.

Những thời hạn kế tiếp, Ðức Phật rút ngắn dần dần, từ sáu hay năm năm xuống còn một vài tháng. Cuối cùng, thậm chí chỉ cần bảy ngày, hành giả cũng có thể chứng một trong hai quả vị trên. Như vậy, yếu tố thời gian ở đây không nhất định, do căn cơ trình độ và sự tinh tấn của mỗi người khác nhau. Ðức Phật định hạn kỳ dài nhất là bảy năm, ngắn nhất là bảy ngày cũng là một lối nói tùy duyên uyển chuyển, có tính cách ước định. Những người sống nhiều bằng trực giác, nếu có đầy đủ kiến giải chân chánh và quyết liệt công phu, thường tu hành sớm đạt kết quả. Lục Tổ Huệ Năng tuy không biết chữ, nhưng có một trực giác rất kỳ đặc nên Ngài liễu hội được tinh thần vô nhất vật. Trong khi đó, ngài Thần Tú là Giáo thọ của hơn năm trăm người, vì thức giác nhiều nên không vào được cửa nhà Thiền. Ðiều này cho thấy, sự giác ngộ tối thượng chỉ đến với những hành giả có nhiệt tâm tinh cần, không buông lung phóng dật, quyết liệt tu hành theo đúng lời Phật dạy. Giác ngộ tối thượng không khi nào có mặt ở những người chỉ biết lý thuyết suông, dù thông suốt tam tạng kinh điển.

Chấm dứt bản Kinh, Ðức Phật xác chứng rằng: Bốn Niệm Xứ là con đường độc nhất giúp nội tâm hành giả được thanh tịnh, đoạn trừ phiền não tham sân si, thành tựu trí huệ tối thượng và chứng ngộ Niết-bàn. Tất cả đệ tử Phật, muốn thể nhập tự tánh, đều phải đi theo lộ trình này. Có điều cần nhấn mạnh, chúng ta phải hiểu rõ rằng, tu là dẹp trừ tham sân si chứ không phải dẹp trừ chân tâm thanh tịnh của chính mình. Cũng vậy, Niết-bàn là kết quả của việc đoạn tận phiền não chứ không phải là hủy diệt cuộc sống. Vì thế, không tìm Niết-bàn ở một thế giới nào đó xa xôi hoặc ở thời điểm sau khi chết, mà Niết-bàn chỉ có nơi mảnh đất thực tại và ngay lúc này. Chính công phu thiền tập một cách tinh cần sẽ giúp chúng ta nhận ra được cái sát-na tâm vĩnh hằng ấy.

Sau khi nghe Ðức Phật thuyết giảng về Thiền Kinh Niệm Xứ, tất cả các vị Tỷ-kheo trong pháp hội đều hoan hỷ tin nhận lời dạy của Ngài.

PHẦN III: ÁP DỤNG VÀO CÔNG PHU

1.- Những tư tưởng chủ đạo trong Kinh Niệm Xứ.

Như chúng ta đã biết, Thiền Kinh Niệm Xứ là một bài kinh có tầm quan trọng đặc biệt trong hệ thống kinh điển Nguyên Thủy. Ngài Ðạt-Ma-Nan-Ðề đời Ðông Tấn khi dịch ra Hán văn, dùng đề tựa “Nhất nhập đạo”, có nghĩa là con đường vào duy nhất. Khi kết thúc lời giảng, Ðức Phật bảo đây là con đường độc nhất giúp chúng sanh vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Như vậy, nếu muốn giác ngộ và giải thoát, nhất định chúng ta phải đi theo con đường Phật dạy trong Thiền Kinh Niệm Xứ.

Chúng ta cũng đã khảo sát toàn bộ nội dung bản kinh, và phần nào thấm nhuần được tinh thần Phật muốn truyền trao. Từ bây giờ trở về sau, tất cả đều là công việc của chúng ta: Bắt đầu tiến bước theo lộ trình Ðức Bổn Sư đã vạch sẵn. Nhưng vì con đường này rất dài, lại nhiều chông gai hiểm trở, nên trước khi khởi hành, chúng ta phải chuẩn bị chu đáo mọi tư lương, trong đó đáng kể nhất là niềm tin vững chắc, ý chí kiên định và nắm vững pháp tu. Vì lẽ đó, trước khi đi vào thực hành, chúng ta một lần nữa cần quán triệt những tư tưởng chủ đạo trong Thiền Kinh Niệm Xứ.

Một số nhà nghiên cứu về Phật học thường đánh giá một cách đơn giản rằng Kinh Niệm Xứ là một bài kinh Tiểu thừa, với nội dung có thể tóm tắt trong một câu “Quán thân bất tịnh, Quán thọ thị khổ, Quán tâm vô thường, Quán pháp vô ngã”. Thật ra, Kinh Niệm Xứ tràn đầy ý nghĩa sâu mầu uyên áo của tinh thần Tối thượng thừa thiền. Chúng ta không chỉ đọc bài kinh trên văn tự mà còn đọc ở phía dưới của từng con chữ và ở giữa các hàng chữ kinh, nơi chỉ có giấy trắng. Lúc ấy, chúng ta có thể hiểu được một đôi phần thâm ý của Ðức Phật, để làm hành trang trên đường xa vạn dặm, đầy dẫy gian truân và thử thách này.

Ðiều quan trọng thứ nhất Ðức Phật muốn truyền trao, là thực hiện Chánh niệm. Có thể nói, điểm cốt yếu của việc tu học là làm sao cho tâm mình luôn có mặt trong giờ phút hiện tại. Chúng ta lúc đầu tập chánh niệm trên từng hơi thở và trên thân hành của mình, sau đó chánh niệm đối với tâm thức để thấy rõ những vọng tưởng sinh diệt, rồi nhận rõ tất cả sự vật xảy ra xung quanh chúng ta. Cả thân, tâm và cảnh đều biến đổi trong từng sát na, nhưng người thực hiện chánh niệm là trở về thực tại, sống với thực tại và cuối cùng hòa nhập với thực tại.

Việc duy trì chánh niệm không hạn cuộc vào hoàn cảnh, vào nề nếp sinh hoạt của hành giả, nên có thể áp dụng cho tất cả mọi người, vào bất cứ lúc nào và ở đâu. Nếu vĩnh viễn sống với thực tại đang là, thì dù trải qua vô lượng kiếp trong quá khứ hay sẽ còn luân hồi sinh tử trong tương lai, thì cũng chỉ là một sát na vĩnh hằng của “tại-đây-và-bây-giờ”. Ðây là ý nghĩa huyền diệu của một câu nói quen thuộc trong nhà Thiền “Nhất niệm vạn niên”, mà phải trải qua công phu thiền tập dài lâu, chúng ta mới có thể hiểu được đôi phần.

Một vài điều chúng ta cần lưu ý: Thắp sáng chánh niệm trên mọi sự vật là để hiểu rõ tất cả các pháp như tự thân của chúng, chứ chúng ta không can thiệp vào sự chuyển dịch của các pháp. Nếu cưỡng ép các pháp theo ý mình, đó là chúng ta đã làm trái qui luật tự nhiên của vạn vật, là trò chơi nguy hiểm của ý thức. Muốn có chánh niệm, tâm ta luôn an trú trong giờ phút hiện tại chứ không dong ruổi về quá khứ hay mơ màng đến tương lai; không mang một thành kiến hay quan điểm có sẵn mà phải hoàn toàn khách quan; như thế mới có thể nắm bắt được thực tại trong tận cùng uyên nguyên của chúng. Ngoài ra, chúng ta không nên lầm lẫn giữa chánh niệm với diệt niệm hay dung túng niệm. Cả hai đều là những cực đoan, không phù hợp với đường lối trung đạo của Phật giáo. Phàm phu tưởng lầm vọng niệm là mình nên dung niệm, chạy theo niệm, từ đó mãi chịu trầm luân sinh tử. Nhị thừa sợ cảnh làm chướng ngại, tìm chỗ vắng vẻ để tránh duyên, tu theo cách đè nén diệt trừ vọng niệm, vô tình trở thành tiêu cực. Ðây là lối thiền tiêu nha bại chủng, theo kiểu trầm không trệ tịch.

Tư tưởng chủ đạo thứ hai trong Kinh Niệm Xứ là thực hành Quán niệm trên bốn lĩnh vực Thân-Thọ-Tâm-Pháp. Khi đã có chánh niệm, tâm đã an định vào giờ phút hiện tại, chúng ta quán sát một cách sâu sắc vào trong tự thân của các pháp phát sinh trí tuệ. Ðây là tinh thần của Quán niệm. Như vậy, muốn quán niệm có kết quả, phải thành tựu chánh niệm trước. Nếu quán các pháp mà tâm còn loạn tưởng, thì chỉ thấy một cách hời hợt, thấy ở ngoài rìa, ở bề mặt của sự thật: đây là cái thấy của ý thức. Người có chánh niệm, khi quán sát sự vật, sẽ phóng chiếu trí giác đi thẳng vào trong tự thân của sự vật mà không qua trung gian của hiểu biết phân biệt nhị nguyên. Lúc ấy, thực tại mới vén mở cho ta thấy tất cả sự nhiệm mầu của nó, trong đó không có người thấy và đối tượng được thấy.

Tư tưởng thứ ba, được xem như sợi chỉ sỏ xuyên suốt toàn bộ bản kinh, được Ðức Phật nhắc đi nhắc lại bằng hai từ “Tuệ tri”. Tuệ tri được hiểu ngắn gọn là cái biết bằng trí tuệ, không qua ý thức phân tích suy luận. Nhưng nếu thông hiểu được ý nghĩa thâm sâu diệu mầu của nó, chúng ta sẽ thấy bản ý của Ðức Phật muốn gởi gắm cho chúng ta điều gì. Chúng ta cũng sẽ thấy tính nhất quán của tất cả các kinh điển trong mười hai phần giáo, mà lâu nay bị phân chia thành Tiểu thừa, Ðại thừa… Thật ra, lời Phật dạy chung quy chỉ có một mục đích duy nhất: giúp chúng ta phương pháp tìm lại con người thật xưa nay của chính mình, con người mà tất cả chúng sanh đều có, không khác một mảy may so với con người thật của chư Phật – Bồ tát mười phương.

Ở đây, chúng ta cũng cần nhận định, trí tuệ được sử dụng để “tuệ tri” có khác gì với trí tuệ theo nghĩa thông thường? Nhờ học hỏi qua sách báo, qua sự dạy dỗ của thầy cô ở trường học, trường đạo và cả trường đời, chúng ta từng ngày tích lũy kiến thức và phát sinh trí tuệ. Ðây là Trí hữu sư, nhờ thầy mới có, nên chỉ là vốn tom góp được từ bên ngoài, là công năng của chất xám. Nhà Phật gọi là Văn huệ và Tư huệ, chỉ là hai bước khởi đầu của cuộc hành trình đưa đến giác ngộ và giải thoát. Mục đích của người con Phật là làm sao phát khởi Trí vô sư, tức trí huệ nhờ công phu tu tập (Tu huệ). Vậy, điều kiện để phát khởi Trí vô sư là gì?

Một cây đèn dầu, nếu không có bóng, khi để trước gió thì ngọn lửa cứ chao đảo, ánh sáng sẽ không rõ. Nếu có bóng đèn, ngọn lửa đứng yên, ánh sáng phát ra mạnh hơn giúp ta nhìn rõ mọi vật. Cũng vậy, nếu tâm ta cứ tán loạn, quay cuồng theo các pháp, dong ruổi theo dòng chảy của thời gian, ta sẽ không biết một cách thấu thể về chính bản thân mình và về mọi sự vật quanh ta. Nhà Nho thường nói: “Tâm bất tại yên, thị nhi bất kiến, thính nhi bất văn, thực nhi bất tri kỳ vị”. Nếu tâm không có mặt ngay thời điểm hiện tại, ta sẽ nhìn mà không thấy, nghe mà không thấu, ăn mà không biết mùi vị. Như vậy, muốn có chiếu soi, đồng thời phải có an định; tâm an định tức có soi sáng. Ðây là tinh thần Ðịnh – Huệ đồng thời mà Lục Tổ Huệ Năng đã dạy rõ trong Pháp Bảo Ðàn Kinh. Vũ trụ luôn luôn vận hành, thân ta luôn luôn thay đổi, vọng niệm thì luôn luôn sinh diệt, không ngừng lại dù một sát na. Nhưng do có chánh niệm, nên tâm ta bám sát theo sự vận hành ấy để hòa nhập vào thế giới đại đồng.

2.- Phương pháp công phu.

Lời Phật dạy như ngón tay chỉ mặt trăng. Muốn thấy mặt trăng chân lý, chúng ta không nhận lầm ngón tay là mặt trăng, nhưng cũng phải nương theo ngón tay chỉ. Toàn bộ bài Kinh Niệm Xứ cũng là những lý luận để chúng ta có khái niệm về chân lý, còn muốn thâm nhập và thấu triệt, phải có công phu tu tập. Ðạo Phật ít chú trọng đến kiến giải mà chú trọng ở hành trì, vì người tu Phật không chỉ là học giả mà còn là hành giả. Ðối với nhà Thiền, việc hành trì được xem là quan trọng bậc nhất, là bước quyết định đạt được giác ngộ và giải thoát. Bản chất của Thiền không phải là kiến thức mà là sự sống; còn sự thông minh uyên bác thế gian chỉ là cái vay mượn hời hợt bên ngoài, và không theo kịp đà vận hành của vũ trụ vạn hữu. Cho nên, sống Thiền là đi vào thực nghiệm thực chứng, khi công phu thành tựu thì tự mỗi người sẽ phát minh ra việc lớn, chứ không ai có thể làm thay cho ai. Ngay việc lớn ấy, Phật và chư Tổ cũng không thể nói rõ, vì ngôn từ đến đây đã trở thành bất lực. Ðức Phật đã bảo: “Mỗi người hãy tự thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với chánh pháp”. Chánh pháp ta đã biết, vấn đề ở chỗ chúng ta phải thắp lên như thế nào và đi làm sao để đến đích. Ðây là công việc quan trọng và thiết yếu của mỗi người.

a.- Tư thế và thời gian công phu.

Theo nguyên tắc, tu thiền là tu trong mọi tư thế đi đứng nằm ngồi và trong mọi hoàn cảnh, lúc tĩnh cũng như lúc động. Nhưng đối với người sơ cơ, để thực hiện được chánh niệm, thì tọa thiền và thiền hành là hai tư thế thích hợp và có kết quả nhất.

Ðối với tọa thiền, tùy theo tuổi tác và sức khỏe mà ta có thể ngồi theo nhiều cách khác nhau. Nếu còn trẻ tuổi, các khớp sống lưng và chân không có vấn đề, nên tập ngồi kiết già, vì đây là cách ngồi ưu thắng hơn cả, do máu huyết không bị ngưng trệ, có thể ngồi được lâu. Nhưng nếu đã lớn tuổi, hoặc có bệnh ở thân thuộc dạng xương khớp mãn tính, chúng ta có thể ngồi bán già hay xếp bằng bình thường, hoặc ngồi trên ghế… Lưng thẳng, mắt khép hờ hay nhắm, bàn tay phải để trên bàn tay trái, hai đầu ngón tay cái chạm nhẹ vào nhau. Thời gian tọa thiền thường là ba mươi phút đến một giờ, có thể đến hai giờ hoặc hơn như chủ trương của Hòa Thượng Trúc Lâm, để thiền sinh bước đầu làm chủ được thân mình, sau mới làm chủ được tâm. Mỗi ngày tọa thiền, một đến ba lần tùy công việc và hoàn cảnh của mỗi người, nhưng tốt nhất là nên sắp xếp để có thể tọa thiền vào ba giờ đến năm giờ (3giờ – 5giờ) và mười chín giờ đến hai mươi mốt giờ (19giờ – 21giờ) mỗi ngày.

Thiền hành thì có nhiều cách, nhưng nguyên tắc chung là đi một cách tự nhiên, không gò bó, không quá nhanh cũng không quá chậm. Hai tay đánh đàng xa nhẹ nhàng và thong thả. Có thể đi vòng quanh sân nhà hay trên đường vắng. Sau khi tọa thiền hay đang lúc tọa thiền mà không điều phục được buồn ngủ, ta nên đi kinh hành trong thiền thất. Lúc ấy đi chậm rãi, hai tay chắp búp sen hay đặt tay trên tay dưới, trước bụng.

b.- Phương pháp hành trì.

Những điều Phật dạy trong Thiền Kinh Niệm Xứ, chúng ta có thể thực hành trong đời sống hàng ngày. Chủ ý của Ðức Phật, cũng là nguyên tắc cơ bản của hành giả tu thiền, như trên đã nói, đó là thực hiện chánh niệm trong mọi thời điểm, mọi nơi chốn. Tất cả các phương pháp chúng ta đã khảo sát trong kinh đều tuân theo nguyên tắc: luôn đặt tâm an trú vào giờ phút hiện tại. Khi chánh niệm có mặt, chúng ta mới để tâm quán sát về thân, thọ, tâm và pháp một cách thấu thể. Ðây là giai đoạn quán niệm. Quán niệm thành tựu, chúng ta tuệ tri được muôn sự muôn vật bên ngoài và cả bên trong, đến tận cùng uyên nguyên của cuộc sống. Ðến chỗ này không đủ lời để diễn tả, Ðức Phật chỉ gọi là “Thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn”.

Áp dụng vào thực tế, do chúng ta có quá nhiều bận rộn trong cuộc sống, hoàn cảnh mỗi người mỗi khác, nên việc thiền tập cũng tùy thuộc vào thời điểm và nơi chốn sao cho uyển chuyển, phù hợp. Ðiều cần lưu ý là khi chánh niệm hay quán niệm, chỉ chú trọng đến một trong bốn lĩnh vực (thân, thọ, tâm hay pháp). Không phải tu một lần cả bốn lĩnh vực, vì như thế sẽ trở thành hỗn loạn.

Lúc thiền hành, thường chúng ta nên an trú trong từng bước đi: Theo dõi sát sao từng động tác nhỏ của chân và bàn chân, khi bàn chân giở lên, co cổ chân rồi khớp gối… mọi cử động ta đều biết rõ. Cũng có thể ta áp dụng phương pháp tùy tức, theo dõi hơi thở vào và ra. Hoặc nếu thiền hành ngoài trời thoáng đãng, chúng ta có thể nhìn nghe các pháp; chỉ cần nghe hay nhìn mà không khởi niệm phân biệt đẹp – xấu, hay – dở, thì không sai trái. Từ hơi thở đến cách đi và cách nhìn nghe mọi vật, chúng ta biết rõ tất cả mọi điều, biết một cách tự nhiên mà không xâm phạm các pháp, không bắt buộc các pháp theo ý mình. Thực hiện chánh niệm như thế, ta sẽ thấy cuộc sống thêm đẹp thêm tươi, ta sẽ có tự do trong mọi hành động ngôn ngữ mà vẫn không rời đạo lý.

Trong tư thế tọa thiền, chúng ta có thể áp dụng các phương pháp chánh niệm và quán niệm Ðức Phật đã dạy trong kinh. Lúc này, các duyên bên ngoài đã dứt, chúng ta dễ thực hiện chánh niệm hơn. Người sơ cơ nên theo dõi hơi thở, mục đích chú tâm vào hơi thở và giúp chúng ta ý thức được mạng sống của mình rất mong manh, một hơi thở ra không hít vào là không còn tồn tạị. Như thế, không có gì đáng đắm luyến ở thân này. Cần chú ý là, chúng ta chỉ theo dõi để biết hơi thở vào ra dài ngắn, chứ không bắt buộc hơi thở phải dài hay ngắn theo ý mình. Một số người than, tùy tức một thời gian sao thấy mệt hoặc khó thở, tức ngực, đó là vì đấu tranh với hơi thở, không phù hợp với chủ trương bất bạo động của đạo Phật và cả với hiện tượng sinh lý bình thường.

Tọa thiền một thời gian, chúng ta có thể thấy nóng bức khó chịu, nhất là đau tê ở chân. Ðây là cơ hội để chúng ta quán niệm các cảm thọ. Ánh sáng chánh niệm soi sáng cảm thọ khổ ở thân, nhận diện và cuối cùng chuyển hóa nó. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý, tọa thiền là để tạo cho mình một niềm an lạc thanh lương, chứ không phải để biến chúng ta thành một chiến sĩ có sức chịu đựng cao. Có người ngồi thiền với vẻ mặt rất đau khổ hoặc bặm môi nhăn mặt như đang chiến đấu mãnh liệt với một kẻ thù nào đó; có người lại tính giờ, xem ai ngồi lâu hơn. Thật ra, nếu chỉ ngồi ba mươi (30) phút mà tâm an định thì tốt hơn người ngồi hai đến ba giờ mà không biết cách tu. Không ai chịu đựng được những nỗi khổ ở thân bằng Ðức Phật, trong 6 năm khổ hạnh rừng già, nhưng chính Ngài cũng đã từ bỏ con đường bạo động ấy.

Chúng ta có thể theo dõi mười sáu loại tâm hành sanh diệt, theo lời Phật dạy trong phần “Quán tâm trên tâm”. Ðây cũng là phương pháp hành trì để được an tâm mà Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma đã dạy cho ngài Thần Quang thuở trước; và cũng là phương pháp “Biết vọng không theo” của Hòa thượng Trúc Lâm hiện giờ. Khi một niệm khởi lên, ta biết đó là vọng, không chạy theo nó, nó liền biến mất; ngay đó tâm được an. Phương pháp này rất nhẹ nhàng mà kết quả vô cùng to lớn, chỉ cần biết rõ, mọi tâm hành mà lâu nay chúng ta lầm là thật mình, đều là hư dối như hoa đốm giữa hư không. Như vậy là tỉnh giác. Có đôi khi, chúng ta thắc mắc vì sao bình thường ta thấy ít có niệm khởi, nhưng khi ngồi thiền lại thấy vọng tưởng lẫy lừng. Thật ra, lúc đang làm việc, nói năng, vọng vẫn khởi rất nhiều nhưng ta không nhận thấy; khi tọa thiền, nhờ sức tỉnh giác nên có vọng ta liền biết. Nhà Thiền có câu “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”; niệm nào khởi lên ta đều biết thì đó đã là giác rồi. Khi thấy được mọi chuyển biến của tâm niệm ở mọi thời mọi lúc, cái thấy biết đó không bị hạn cuộc bởi thời gian và không gian, không qua phân tích suy luận lưỡng phân; đây là cái thấy biết của Trí.

Khi chúng ta làm việc hay đang hoạt động, nói năng, phải công phu như thế nào? Chúng ta có thể thực hiện chánh niệm qua bốn oai nghi hay chánh niệm qua các hành tướng của thân. Tất cả các phương pháp đều không ngoài nguyên tắc “Làm việc gì chỉ biết việc đó”. Khi ánh sáng mặt trời lan tỏa, chỉ có tác dụng sưởi ấm mọi vật. Nếu chúng ta dùng một thấu kính hội tụ đặt ra ngoài nắng, chùm tia sáng mặt trời được hội tụ có thể đốt cháy tờ giấy để trước thấu kính. Sức tập trung nhờ chánh niệm cũng có những hiệu quả đáng ngạc nhiên như thế. Một Bác sĩ khi khám cho bệnh nhân, nếu có chánh niệm sẽ chẩn đoán chính xác và có hướng điều trị rất hợp lý; một thầy giáo nếu giảng bài trong chánh niệm, sẽ giảng rất sinh động và truyền đạt được tất cả những gì mình muốn nói với học sinh. Ngay cả khi tiếp khách, nếu chúng ta tiếp trong chánh niệm, người khách sẽ thấy rõ sự chân thành, nồng nhiệt của ta, cho nên người có công phu thiền tập sống rất có tình nghĩa, đạo lý.

Phần đông, chúng ta đều biết bài thơ “Con cóc”, lâu nay dùng để chế nhạo những người làm thơ quá dở mà lại thích làm:

Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra

Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó

Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi.

Ðứng trên góc độ của người tu Thiền, bài thơ này hay không kém thơ Haiku của Nhật bản. Vì sao dám nói như vậy? – Vì đây là cái nhìn vô tâm trên một thực tại sống động. Con cóc ở trong hang, nhảy ra, ngồi đó, rồi nhảy đi; người thấy những hình ảnh này một cách trọn vẹn, nguyên hình, bằng một cái thấy không có ý thức phân biệt nhị nguyên. Cái thấy này chính là “Ðối cảnh vô tâm”, ngay đây đã là Thiền!

3.- Kết quả công phu.

Thiền Kinh Niệm Xứ dạy chúng ta công phu theo tinh thần Chánh niệm và Quán niệm để Tuệ tri qua bốn lĩnh vực Thân-Thọ-Tâm-Pháp. Kết quả công phu sẽ đạt được tùy thuộc chúng ta đang ở giai đoạn nào của cuộc hành trình. Trên thực tế, sự tiến bộ tâm linh không phải được phân biệt rạch ròi và theo một chiều từ thấp lên cao, vì tâm chúng sanh vốn rất phức tạp và vô thường, nên quá trình tu hành cũng khi tiến khi lùi, lại có lúc đi vào ngả rẽ. Tuy vậy, chúng ta cần biết những kết quả chủ yếu theo từng cấp độ, được phân chia một cách tương đối, xem như những cột mốc bên đường để người bộ hành thấy rõ mình đã tiến được bao xa trên con đường vạn dặm. Các cấp độ giác ngộ sau đây, hành giả có thể trải qua, theo sự mô tả của Hòa thượng Trúc Lâm trong quyển “Thiền Tông Việt Nam cuối thể kỷ 20; chúng ta cần y cứ theo để đối chiếu.

a.- Giác ngộ hạ: Vô ngã.

Trên cả 4 lĩnh vực Thân-Thọ-Tâm-Pháp, Ðức Phật đều dạy chúng ta chánh niệm để nhận diện một cách thấu thể bản chất thật sự của chúng. Quán sát tường tận tất cả hoạt động và cấu tạo của thân khi sống cũng như lúc chết, tất cả chín loại cảm thọ và mười sáu loại tâm hành sanh diệt, chúng ta thấm thía đến tận cùng lý vô thường và duyên sinh của thân và tâm. Từ vô thủy, chúng ta lầm chấp thân tứ đại giả hợp này và những vọng niệm lăng xăng này là thật mình, nên bỏ tất cả công sức để bồi đắp cho thân ta, cho những sở hữu của ta; để bảo vệ cho những tư tưởng tình cảm của ta. Từ đó, chúng ta liên tục tạo nghiệp, bị nghiệp dẫn lôi nên mãi chìm đắm trong luân hồi sinh tử. Giờ đây, phản quan tự kỷ, chúng ta thấy rõ thân tâm này thật sự không có chủ tể; không đồng nhất vì nó do duyên sinh; và thật sự nó luôn biến đổi, vì vậy nó không bất biến.

Hành giả phá được si mê chấp ngã về thân và tâm là đạt được giác ngộ bậc hạ. Vị ấy sẽ không nương tựa và chấp trước một vật gì trên đời, nên không còn bị sầu bi khổ ưu não trói buộc. Vì sao được như thế? Vì thân tâm ta không thật, thì những gì thuộc về thân lại càng không thật; ngã không có giá trị gì thì ngã sở lại càng không đáng kể. Từ đó, mọi thăng trầm vinh nhục của cuộc sống, mọi khen chê của thế gian đối với chúng ta đều vô nghĩa. Chúng ta sẽ tự tại, đi trong dòng đời nhưng không bị dòng đời làm phiền não; chúng ta sẽ bước từng bước an lạc thảnh thơi và vững chãi trong cuộc sống. Chúng ta vẫn hoạt động, vẫn làm việc như mọi người, nhưng làm với tinh thần vô trú, vô trước, vô nhiễm. Khi ăn uống, chúng ta vẫn rõ biết mùi vị thức ăn, nhưng không vì ngon mà tham, không vì dở mà sanh sân hận. Chúng ta có quyền thỏa mãn những nhu cầu bức thiết của thân, nhưng không đam mê ái luyến với bất cứ dục lạc nào của trần thế. Cho nên, người tu không phải ghê sợ, chối bỏ hay phá hoại các pháp, mà phải thắp sáng chánh niệm lên tự thân các pháp để nhận diện, theo dõi và cuối cùng chuyển hóa.

b.- Giác ngộ trung: Vô niệm.

Khi còn đang công phu, có lúc chúng ta an trú tâm vào hiện tại, tức có chánh niệm; nhưng cũng có lúc tâm dong ruổi theo ngoại duyên, ấy là thất niệm. Khi chánh niệm thành tựu, tâm đã đạt được sự thuần nhất, không còn khởi niệm phân biệt lúc đối duyên xúc cảnh, ấy là vô niệm, còn gọi là Chánh định. Như vậy, vô niệm không phải là diệt niệm, càng không phải là không còn biết gì hết. Chính vì biết niệm khởi chỉ là vọng tưởng không thật, nên chúng ta đã giác, nên ngay trong niệm mà vô niệm. Có thể nói, chánh niệm là tỉnh giác trong đương niệm, là bí yếu để nắm bắt được thực tại ngay trong dòng sinh diệt của đương niệm, cho nên nó phù hợp với dòng lưu chuyển sinh diệt của các pháp. Các pháp luôn luôn biến đổi vô thường, nếu chúng ta tỉnh giác trong đương niệm là hòa nhập với sự sinh diệt của các pháp; như thế không phá hoại các pháp mà vẫn ở trong định: đây là chánh định, là thường định, là chơn định.

Lĩnh vực thứ tư trong bài kinh là quán pháp trên các pháp. Hành giả quán xét tất cả các pháp từ hữu hình đến vô tướng, từ bên trong thân tâm đến mọi sự vật bên ngoài, từ pháp thế gian đến pháp xuất thế… Quán xét đến tận cùng nguồn cội của vũ trụ vạn hữu, hành giả thấy rõ tất cả đều do duyên hợp, nên tánh nó là không. “Không” ở đây chẳng phải không ngơ, vì là duyên hợp nên giả có. Tất cả chúng sanh, tất cả các pháp đều bình đẳng ở tự tánh Không này – Không, nhưng chẳng phải là không, nên mới gọi “Chân không”. Ðây là tinh thần của “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không” trong bài Tâm Kinh Bát Nhã, và cũng là cổng vào của nhà Thiền!

Có một vị Tăng đọc bài kệ của Thiền sư Ngọa Luân:

“Ngọa Luân có tài khéo

Hay đoạn trăm tư tưởng

Ðối cảnh tâm không sanh

Bồ đề ngày càng lớn”.

Câu cuối khiến ta liên tưởng đến bài kệ trình kiến giải của Giáo thọ Thần Tú, trong đó có câu “Thân như cây Bồ đề”. Nhưng Bồ đề là giác, làm gì có hình tướng mà bảo lớn hay nhỏ? Thêm nữa, Ngọa Luân cho tư tưởng là thật nên tìm cách diệt trừ, khi đối cảnh cũng dùng lối đè nén không cho khởi niệm. Ðây là lối tu diệt niệm, không đúng đường lối của Tổ Sư Thiền. Do vậy, Lục Tổ đọc lại bài kệ:

“Huệ Năng không tài khéo

Không đoạn trăm tư tưởng

Ðối cảnh tâm thường sanh

Bồ đề làm gì lớn”

Chính đây là tinh thần của “Xưa nay không một vật”, vì không phải một vật nên không có bụi nào làm ô nhiễm. Thấu triệt được sự bình đẳng nơi tự tánh Không của tất cả các pháp, chúng ta sẽ phát tâm đồng thể đại bi. Vì ta và chúng sanh muôn loài đều cùng một tự thể, nên tự nhiên ta có một tình thương vô hạn đối với tất cả chúng sanh đang còn đắm mình trong vòng tục lụy, chỉ biết tìm an ủi trong những thú vui tạm bợ thế gian mà không biết sự an lạc vĩnh cửu xuất thế. Một người mắc bệnh phong, lúc cơn ngứa ngáy nổi lên hành hạ, phải dùng lửa than rừng thật nóng để hơ khắp người mới đỡ ngứa. Khi được điều trị khỏi, cũng chính người ấy không chịu được sức nóng của hố than lửa kia. Và khi thấy người khác đang trải qua những nỗi thống khổ tương tự như mình trước đây, người ấy có một sự đồng cảm và tình thương vô bờ đối với họ. Chư Phật và Bồ tát cũng vậy, các Ngài thương tất cả chúng sanh vô minh đang quay cuồng trong ngũ dục mà không biết lửa vô thường luôn luôn thiêu đốt. Vì thế, các Ngài phát đại nguyện lăn lộn trong ba cõi sáu đường, độ tận chúng sanh khỏi cảnh trầm luân sinh tử.

c.- Giác ngộ thường: Tri hữu.

Con người thường tự hào cho mình là chúa tể của muôn loài muôn vật, tự hào với kiến thức uyên bác thế gian. Nhưng nếu biết rõ ràng mọi sự việc bên ngoài, kể cả những bí mật của vũ trụ bao la, mà không biết được con người thật của chính mình, thì sự hiểu biết ấy chưa phải là rốt ráo. Mục đích cuối cùng của Thiền Kinh Niệm Xứ, cũng như của tất cả lời dạy của Ðức Phật và chư Tổ, là giúp chúng sanh phát hiện được cái chân thật trong thân tâm giả tạm, cái chân thường trong vô thường, cái vô sanh trong sanh diệt, và cái minh triết tối thượng trong vô minh. Muốn đạt được mục đích ấy, không phải chạy tìm cầu bên ngoài, mà chúng ta phải xoay lại nhìn một cách thấu thể chính bản thân mình. Ðây là con đường nội nhiếp, là ý nghĩa của hai chữ “Tuệ tri” mà chúng ta đã khảo sát ở trên.

Trong suốt toàn bộ bản kinh, chúng ta thấy Ðức Phật rất chú trọng cái BIẾT của chánh niệm tỉnh giác, qua mọi khía cạnh của Thân-Thọ-Tâm-Pháp. Thực tập chánh niệm là Thiền, thành tựu chánh niệm là Ðịnh. Thiền như một diễn trình, Ðịnh là kết quả của diễn trình đó. Tâm an định sẽ thấu biết tận cùng bản thể của muôn sự muôn vật; đây là cái biết trùm khắp và hằng hữu, không lệ thuộc thời gian và không gian. Có Ðịnh tức có Huệ nên Ðịnh – Huệ đồng thời, rất phù hợp với tư tưởng của Lục Tổ, và cũng là yếu chỉ của Thiền Tông. Một lần nữa, chúng ta lại thấy, cốt lõi của bài kinh này có khác gì tinh thần của pháp môn Thiền Ðốn ngộ?

Khi vua Lý Thái Tông hỏi thiền sư Thiền Lão, trụ ở núi này đã bao lâu. Ngài trả lời vua bằng hai câu thơ:

“Ðản tri kim nhật nguyệt

Thùy thức cựu xuân thu”.

(Chỉ biết ngày tháng này

Ai rành xuân thu trước)

Vua hỏi tiếp: “Hằng ngày Hòa thượng làm gì?” Ngài đọc tiếp hai câu:

“Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh

Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân”.

(Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác

Trăng trong mây bạc hiện toàn Chân).

Có chánh niệm, luôn luôn an trú tâm vào giờ phút hiện tại, Thiền sư đâu cần biết gì đến xuân thu trước. Và chánh niệm thành tựu là có chánh định, tự dưng trí huệ phát sinh. Do tâm thanh tịnh sáng suốt nên Thiền sư nhìn mọi cảnh vật đều thấy tự thể chân thật của chúng, vì tâm chân nên vạn pháp đều chân. Lúc ấy, tất cả tiếng đều là tiếng Phật, tất cả pháp là pháp Phật.

Khi thực sự sống trọn vẹn với chân tâm thường trụ của chính mình, hành giả sẽ luôn luôn sinh động để nắm bắt thực tại ngay trong cuộc vận hành của các pháp, như một cái gương sáng chiếu soi một cách tự nhiên tất cả sự vật ở trước nó. Sự hiện diện của các vị đã chứng ngộ, dù thuận hay nghịch hạnh, cũng làm cuộc sống có nhiều sinh khí, nhiều màu sắc. Các Ngài tung hoành tự tại, làm ngược làm xuôi nhưng vẫn ở trong đạo lý, sử dụng nhiều phương tiện thiện xảo để giáo hóa chúng sanh. Ðây là diệu dụng của tự tánh. Các Ngài không diệt vọng mà liễu vọng, nên mới vận dụng được vọng niệm trở thành đại cơ đại dụng; vì thế mới có Ðơn Hà đốt tượng Phật, Nam Tuyền chém mèo… để khai thị chân lý Thiền. Các Ngài tùy cảm tùy ứng, gặp việc thì làm nhưng không thấy có người làm, không có việc để làm và không có đối tượng của việc làm; chính là Tam luân không tịch. Tinh thần Ba-la-mật là ở chỗ ấy và cũng là tinh thần Như huyễn của Phật giáo Ðại thừa: Dùng thân như huyễn, thị hiện vào các cõi như huyễn, thực hiện các phương tiện như huyễn, độ chúng sanh như huyễn; cuối cùng thành Phật như huyễn. Các Ngài không còn bị sanh tử chi phối nhưng vẫn ra vào sanh tử, vì không thấy có phiền não để thoát ra, có Niết-bàn để đạt đến. Nếu chúng ta biết một cách thấu thể và trở thành một với tất cả các pháp, nếu chúng ta có thể uyển chuyển theo dòng sinh diệt của vũ trụ, tức “Tuệ tri”, từ ngữ của bài kinh này, ta cũng sẽ thấy, phiền não tức khắc trở thành Bồ đề, bởi vì thể tánh của muôn pháp đều bình đẳng, không hai không khác.

4.- Kết luän.

Thiền Kinh Niệm Xứ là con đường độc nhất giúp chúng ta trở về quê nhà muôn thuở của chính mình. Trọng tâm của bài kinh là Chánh niệm và Quán niệm. Chánh niệm là luôn an trú trong giờ phút hiện tại; Quán niệm là quán sát một cách thấu thể về tất cả các lĩnh vực Thân-Thọ-Tâm-Pháp. Muốn có chánh niệm và quán niệm, chúng ta phải có đời sống Thiền tập.

Nhà Thiền đã nói “Ðạo tại nhãn tiền”. Ðạo ở ngay trước mắt, đạo ở trong tất cả mọi sự mọi vật nhưng lâu nay chúng ta không thấy, vì tâm mãi dong ruổi theo trần cảnh ngoại duyên. Nếu có chánh niệm, lắng sâu tâm thức vào giờ phút hiện tại, chúng ta sẽ nghe tất cả các pháp cất tiếng vi diệu nhiệm mầu. Mọi bí mật của vạn hữu sẽ mở toang cho chúng ta hiểu rõ được tận cùng uyên nguyên của chúng. Có chánh niệm, chúng ta sẽ đi trong cuộc đời một cách vững chãi thảnh thơi, tự tại trước bao thăng trầm vinh nhục của cuộc sống; chúng ta sẽ thấy giải thoát là một điều rất tự nhiên và có sẵn ngay trong trần thế, chứ không cần tìm ở một nơi chốn nào xa xôi. Có chánh niệm, tất cả mọi việc làm hàng ngày của chúng ta là những hành động của Thượng đế; niềm an lạc của chúng ta sẽ tương đồng với niềm vui vĩnh cửu của chư Phật – Bồ tát mười phương.

Luôn đặt tâm vào giờ phút hiện tại, chúng ta sẽ nhận ra trong vô thường có cái chân thường, trong bình thường có cái phi thường, nên đời sống lý tưởng cũng nằm ngay trong thế giới hiện thực khổ đau này. Mười phương chư Phật ba đời cũng chỉ ở tại đây và bây giờ. Ðức Phật Thích Ca hiện vẫn còn đang thuyết pháp nơi hội Linh Sơn. Chúng ta sẽ thẩm thấu được ý nghĩa “Nhất niệm vạn niên” hay “Núi Tu di nằm trong hạt cải”. Luôn đặt tâm vào giờ phút hiện tại, chúng ta sẽ biết rõ ta là ai, cuộc sống là gì; chúng ta sẽ có sức sống rạt rào và có ý thức hiến dâng, biết sống trọn vẹn cho mình và cho mọi người. Trí huệ thường đi kèm với Từ bi, do đó phát sinh Hạnh nguyện. Có hiểu mới có thương; vì chúng ta đã có sự hiểu biết thâm sâu trong tận cùng tâm tư và tình cảm của người khác, nên chúng ta sẽ có lòng thương bình đẳng và bao dung đối với tất cả mọi người còn lặn hụp trong biển khổ sinh tử, dù người ấy đang ở địa vị cao sang tột bực hay tận cùng sự nghèo hèn trong xã hội. Ðây chính là Vô duyên từ của các bậc Bồ tát.

Một điều cần nói thêm: Một học sinh miệt mài trên sách vở, là muốn sau này đỗ đạt thành tài và tìm được việc làm thích hợp. Thườøng thì học sinh ấy không biết rằng, khi đang học là mình đã có tri kiến ngay trong giờ phút hiện tại, đã có niềm vui khi hiểu biết được điều gì mới lạ. Chính niềm vui ấy kích thích cho mình say mê học tập nghiên cứu. Cũng vậy, một hành giả đang công phu, cũng phải xây đắp niềm an lạc ngay bây giờ và ở đây. Thế giới Cực Lạc không phải hiện diện trong cõi chết, mà có mặt ngay trong giờ phút này, khi chúng ta có chánh niệm. Hiểu được điều này, chúng ta sẽ khuếch đại tự do ngay trong cuộc sống đau khổ, đầy dẫy phiền não vô minh.

Nhà Thiền rất chú trọng đến “cái bây giờ tuyệt đối”, tức cái “đang là”. Chúng ta là thiền sinh, cần nghiên cứu kỹ lời Phật dạy rồi áp dụng vào công phu; chúng ta sẽ khám phá được nhiều điều mới mẻ mà quyển sách này không chuyển tải được hết. Bởi vì Thiền không do người khác trao cho, cũng không do ý thức mà hiểu biết. Thiền là phải thể nhập vào thực tại, sống trọn vẹn với thực tại, để chính mình có thể hòa với vũ trụ vạn hữu thành một thể nhất như.

Xin nguyện cầu cho tất cả chúng ta và muôn loài chúng sanh, đều được hưởng sự bình an vĩnh cửu trong thế giới đại đồng ấy của chư Phật – Bồ tát.

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (2 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +1 (from 1 vote)

Thiền Kinh Niệm Xứ Lược Giải, 10.0 out of 10 based on 2 ratings

Share on Facebook+1